Mục đích, yêu cầu của quản lý đầu tư xây dựng

Chương 2

MỘT SỔ VẤN ĐỂ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỂ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG

2.1.   MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU CỦA QUẢN LÝ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG

Khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư sản xuất kinh doanh phù hợp với chiến Iược và quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội của đất nước trong từng thời kì để chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.

Sử dụng các nguồn vốn đầu tư do Nhà nước quản lý đạt hiệu quả cao nhất, chống tham ô, lãng phí.

Bảo đảm xây dựng theo quy hoạch xây dựng, kiến trúc, đáp ứng yêu cầu bền vững, mĩ quan, bảo vệ môi trường sinh thái; tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh trong xây dựng, áp dụng công nghệ tiên tiến, bảo đảm chất lượng và thời hạn xây dựng với chi phí hợp É, thực hiện bảo hành công trình.

2.2.   ĐẦU TƯ VÀ DỰ ÁN ĐẦU TƯ

2.2.1.     Khái niệm, phản loại, trình tự lập và nội dung chính của dự án đầu tư

  1. Khái niệm

Hoạt động đầu tư nói chung là hoạt động bỏ vốn vào các lĩnh vực kinh tế xã hội để thu được lợi ích dưới các hình thức khác nhau.

Hoạt động đầu tư trong xây dựng thường gồm hai hình thức:

–          Đầu tư cơ bản là hoạt động đầu tư để tạo ra các tài sản cố định đưa vào hoạt động trong các lĩnh vực kinh tế – xã hội nhằm thu được lợi ích dưới các hình thức khác nhau;

Xét tổng thể hoạt động đầu tư nào cũng cần phải có tài sản cố định. Để có được tài sản cố định, chú đầu tư có thể thực hiện bằng nhiều cách: xây dựng mới, mua sắm. đi thuê..;

–          Đầu tư xây dựng cơ bản là hoạt động đầu tư thực hiện bằng cách tiến hành xây dựng mới tài sản cố định.

Xây dựng cơ bản là một khâu trong hoạt động đầu tư xây dựng công trình. Kết quả của hoạt động xây dựng cơ bản (khảo sát, thiết kế, xây dựng, lắp đăt…) Ià tạo ra tài sán cô

định có một năng lực sản xuất và phục vụ nhất định, bằng các hình thức xây dựng mới xây dựng lại, khôi phục và mở rộng cắc tài sản cố định của nền kinh tế quốc dân thuộc các lĩnh vực sản xuất vật chất cũng như phi sản xuất vật chất.

Dự án là tập hợp những để xuất để thực hiện một phần hay toàn bộ công việc, mục tiêu hoặc yêu cầu nào dó. Dự án bao gồm dự án dầu tư và dự án không có tính chất đầu tư.

Dự án đầu tư ỉà tập hợp nhũng để xuất về việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những đổi tượng nhất định nhầm đạt được sự tăng trưởng về số lượng, cải tiến hoặc nâng cao chất lượng của sản phẩm hay dịch vụ nào đó trong một khoảng thời gian xác định.

  1. Phán loại dự án đầu tư

Các dự án đầu tư xây dựng công trình (sau đây gọi chung là dự án) được phân loại như sau:

  1. Theo quy mô và tính chất: dự án quan trọng quốc gia do Quốc hội thông qua chủ trương và cho phép đầu tư; các dự án còn lại được phân thành 3 nhóm A, B, c.
  2. Theo nguổn vốn đầu tư:

–   Dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước;

–   Dự án sử dụng vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước:

–   Dự án sử dụng vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước;

–   Dự án sử dụng vốn khác bao gồm cả vốn tư nhân hoặc sử dụng hỗn hợp nhiều nguồn vốn.

  1. Trình tự lập dự án đầu tư

Chủ đầu tư có trách nhiệm lập hoặc thuê các tổ chức tư vấn lập báo cáo kinh tế – kỹ thuật xây đựng công trình hoặc dự án đầu tư. Khi đầu tư xây dựng công trình, chủ đầu tư phái tổ chức lập dự án để làm rõ về sự cần thiết phải đầu tư và hiệu quả đầu tư xây dựng công trình, trừ những trường hợp sau đây:

  1. Công trình chỉ yêu cầu lập Báo cáo kinh tế – kỹ thuật xây dựng công trình gồm:

Khi đầu tư xây đựng các công trình sau đây, chủ đầu tư không phải lập dự án đầu tư xây dựng công trình mà chỉ lập Báo cáo kinh tế – kỹ thuật xây dựng công trình để trình người quyết định đầu tư phê duyệt:

–     Công trình xây dựng cho mục đích tôn giáo;

–     Các công trình xây dựng mới, cải tạo, sửa chữa, nâng cấp có tổng mức đầu tư dưới 7 tỷ đồng, phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế- xã hội, quy hoạch ngành, quy hoạch xây dựng; trừ trường hợp người quyết định đầu tư thấy cần thiết và yêu cầu phải lập dự án đầu tư xây dựng công trình.

Nội dung của Báo cáo kinh tế- kỹ thuật xúy dựng công trình thực hiện theo quy định trong Luật Xây dựng.

Khái niệm về công nghiệp hoá xây dựng

1.7.1. Khái niệm về công nghiệp hoá xây dựng

Công nghiệp hoá xây dựng là quá trình biến sản xuất xây dựng được thực hiện chủ yếu bằng phương pháp thủ công là chính thành quá trình sản xuất xây dựng được thực hiện bằng phương pháp sản xuất đại công nghiệp. Đặc trưng của công nghiệp hoá bao gồm:

–    Trịnh độ cơ giới hoá cao quá trình thi công và vận chuyển kết hợp với tự động hoá.

–    Công xưởng hoá sản xuất vật liệu,

–   Phương pháp thi công tiên tiến.

–  Tiêu chuẩn hoá, thống nhất hoá và định hình hoá các giải pháp xây dựng.

Trình độ tổ chức sản xuất và quản lý kinh tế xây dựng tiên tiến.  Các hình thức tập trung hòa, liên hiệp hoá trong xây dựng phát triển cao hơn.

Tạo thành một hệ thống công nghiệp khép kín giảm bớt sự ảnh hưởng của thiên nhiên.

Công nghiệp hoá xây dựng một mặt gắn liền với mặt kỹ thuật về cơ giới hoá, tự động hoá, tin học hoá, điện khí hoá và hoá học hoá, mặt khác phải gắn liền với việc hiện đại hoá tổ chức sản xuất và quản lý kinh tế, chú ý tới nhân tố con người và môi trường.

Công nghiệp hoá xây dựng không chỉ bó hẹp trong phạm vi phát triển ngành xây lắp, mà còn phải gắn liền với việc phát triển các ngành khác như vật liệu và kết cấu xây dựng, máy xây dựng, các tổ chức tư vấn xây dựng, cung ứng xây dựng, đào tạo và phục vu xây dựng, tài chính, ngân hàng và thông tin xây dựng.

1.7.2.Các hình thức công nghiệp hoá xây dựng

Hiện nay có ba hình thức công nghiệp hoá xây dựng:

  1. Hình thức đúc xây tại chỗ (công nghiệp hoá hở)

Theo hình thức này mọi công việc hình thành kết cấu xây dựng đều tiến hành tại thân công trình (chủ vếu là công tác thi công bê tông toàn khối và xây tường tại chỗ).Trình độ cơ giới hoá xây dựng có thể đạt cao nhờ các máy móc và thiết bị thi công, trình độ tổ chức thi công cao.

Ưu điểm của hình thức công nghiệp hoá hở là không phải đầu tư để xây dựng các nhà máv chế tạo cấu kiện đúc sẵn. Đảm bảo độ bền chắc tổng thể của công trình cao hơn do không có mối nối. Linh hoạt hơn trong việc tạo ra hình dáng cho công trình. Chi phí vận chuyến và chi phí xây dựng công trình có thể rẻ hơn.

Nhược điểm của hình thức công nghiệp hoá hở là nó bị ảnh hưởng nhiều của thời tiết. Thời gian xây dựng kéo dài. Số lượng lao động sử dụng ở công trường lớn, số lượng lao động và nang bị máy móc thi công trên công trường lớn hơn, đòi hỏi trình độ tổ chức sản xuất cao. Hao hụt vật liệu lớn hơn so với phương pháp thi công công nghiệp hoá kín và khó cải thiện điều kiện lao động xây dựng, dễ làm bẩn môi trường khu vực xây dựng.

  1. Hình thức công nghiệp hoá xây dựng kiểu kín

Theo hình Ihức này phần lớn công việc hình thành kết cấu xây dựng đều được chê tạo sẵn ở nhà máy hoặc có thể chế sẵn ớ gần chân công trình nhờ các thiết bị lưu động. Do đó quá trình sản xuất xây dựng tại hiện trường chỉ chuyên thực hiện lắp ghép các cấu kiện đã được chế tạo sẵn trong nhà máy với trình đô cơ giới hóa cao. Các kết cấu dược chế tạo sẵn ở đây có thể là bé tông cốt thép, gỗ, kết cấu thép. Mức cơ giới hoá ở hình thức này thường cao.

So với hình thức công nghiệp hoá kiểu hở, hình thức công nghiệp hoá kiểu kín có các ưu nhược điểm sau.

ưu điểm: rút ngắn thời gian thi công tại hiện trường do giảm bớt thời gian ngừng kỹ thuật và giảm bớt khối lượng công việc phải làm ở hiện trường thi công. Khắc phục đến mức cao nhất sự ảnh hưỏng của thời tiết, do đó quá trình xây dựng được tiến hành chủ .động hơn. Cải thiện điều kiện lao động xây dựng. Làm cho điều kiện sản xuất xây dựng ngày càng sát gần với điều kiện sản xuất ổn định trong nhà máy và tăng năng suất lao động, tiết kiệm giá thành.

Nhược điểm: Phải đầu tư lớn để xây dựng các nhà máy chế tạo cấu kiện đúc sẵn. Phải mua sắm những phương tiện đặc biệt đé vận chuyển cấu kiện và chi phí vận chuyển đến chân công trình có thể lớn hơn. Độ bền chắc tổng thể của công trình kém hơn phương pháp thi công tại chỗ. Hạn chế tính linh hoạt trong việc tạo hình thù công trình và nhu cầu linh hoạt của thị trường.

  1. Hình thức kết hợp

Theo hình thức này phương pháp thi công công trình chủ yếu vẫn tiến hành ngoài hiện trường theo khuynh hướng công nghiệp hoá hở nhưng có kết hợp việc sử dụng một số cấu kiện lắp ghép mà không ảnh hướng đến chất lượng công trình. Hiện nay hình thức này được áp dụng phổ biến.

ở nước ta hiện nay, kết câu chế sẩn để lắp ghép được dùng phổ biến cho sản xuất đường ống dẫn nước, cột điện, các kết cấu khung chịu lực của các loại nhà.

Ở các nước tư bản thường dùng phượng pháp lắp ghép cặc kết cấu đúc sẵn cho việc xây dựng hàng loạt các loại nhà rẻ tiền cho người nghèo, hoặc cho các kết cấu khung bê tông cột thép chịu lực, hoặc công trình lắp ghép bằng kết cấu thép.

Ưu, nhược điểm của hình thức này là kết hợp được các ưu điểm của hai phương pháp trên và khắc phục được các nhược điểm tương ứng.

Phương pháp xác định hiệu quả kinh tế do áp dụng kết cấu và vật liệu mới

bị tăng lên. Mặt khác nếu chi phí bất biến tính cho một đơn vị sản phẩm làm ra trong thời đoạn đang xét thì nó lại trở thành chi phí biến đổi.

–  Chi phí khả biến (biến phí) tính cho một thời đoạn là loại chi phí thay đổi, phụ thuộc vào khối lượng công tác xây lắp làm ra trong thời đoạn đó. Ví dụ: chi phí vật liệu, nhân công theo lương sản phẩm, năng lượng, sử dụng máy thi công v.v… Nhưng chi phí khả biến tính cho một đơn vị sản phẩm thì nó lại là chi phí bất biến (đó là định mức vật tư hay chị phí định mức).

Ví dụ: Một xí nghiệp sản xuất bẽ tông đúc sản với khối lượng sàn xuất từ 1300 + 1700 m3 bê tông với các phương án sản xuất cho ở bảng (2.1) như sau:

Xem hình 1.3 ta thấy vói quy mô sản xuất từ 1300 – 1700m3 thì phương án 2 có giá thành nhỏ nhất.

1.5.2. Phương pháp xác định hiệu quả kinh tế cho ứng dụng công cụ lao động mới Trong trường hợp tổng quát: hiệu quả kinh tế cho úng dụng công cụ lao đông mới . được do bằng mức tiết kiêm tổng chi phí quy đổi của phương án và hiệu quả kinh tế năm do áp dụng phương án kỹ thuật mới, xác định theo công thức sau:

Trong đó: F d – tổng chi phí quy đổi tính cho 1 đơn vị sản phẩm của phương án;

zđ – giá thành 1 đơn vị sản phẩm làm ra của máy;

H hệ số hiệu quả so sánh của Ngành xây dựng;

vđ – suất vốn đầu tư để mua sắm máy móc thiết bị hoặc giá máy tính trên một đơn vị sản phẩm;

Hn – hiệu quả kinh tế năm do áp dụng phương án mới;

Sn – số lượng sản phẩm thu được do áp dụng cổng cụ lao động mới;

–  tổng chi phí quy đổi của phương án trước và sau khi úng dụng công cụ lao động mới.

1.5.3. Phương pháp xác định hiệu quả kinh tế do áp dụng kết cấu và vật liệu mới

  1. Tính tổng chi phí tính toán của công tác xây lắp

F = <z ± Hr) + Exd.Vxd.T rf Ev.Vv + C.Th                            (1.31)

Trong đó: FI tổng chi phí tính toán của công tác xây lắp sử dụng vật liệu, kết cấu mới đang xét; z – giá thành công tác xây lắp;

Exd – hệ số hiệu quả tiẽu chuẩn của Ngành xây dựng;

Ev – hệ số hiệ.u quả tiêu chuẩn của Ngành vật liệu xây dựng;

c – chi phí sử dụng sản phẩm xây dựng;

Th – thời kỳ tính toán chỉ phí sử dụng, (thường lấy bằng thời hạn thu hồi vốn đầu tư);

Vxd – vốn đầu tư (kèm theo vốn lưu động cần thiết) của tổ chức xây dựng:

Vv – vốn đẩu tư cho việc xây dụng nhà máy sản xuất cấu kiện và vật liệu đang xét;

Trong đó: v01 vốn đầu tư xây dựng nhà máy sản xuất vật liệu, cấu kiện mới;

A – khối lượng cấu kiện; vật liệu cung cấp cho phương án xây dựng đang xét;

N – công suất sản xuất năm của nhà máy.

Hr – hiệu quả (hạy thiệt hại) do rút ngắn (hay kéo dài) thài gian xây dựng 1 của phương án đang xét với phương án cơ sở;

Trong đó: Bd – chi phí bất biến của phương án có thời gian xây đựng dài hơn, xác định trong dự toán công tác xây lắp;

Td – thời gian thi công của phương án có thời gian xây dựng dài hơn;

Tn – thời gian xây dụng của phương án có thời gian xây dụng ngắn han.

Nếu phương án đang xét có thời gian xây dựng ngắn hơn so với phương án cơ sở thì trị số H,. phải lấy (-) và ngược lại.

2. Hiệu quả kinh tế năm do áp dụng phương án vật liệu, kết cấu mới

Trong đó: F1, F2 – tổng chi phi tinh toán một đơn vị công tác xây lắp của phương án 1 và 2;

– Sn2 – khối lượng công tác xây lắp thực hiện trong năm của phương án 2.

1.6. CÁC PHƯƠNG PHÁP CHÚNG ĐÁNH GIÁ, SO SÁNH CÁC PHƯƠNG ÁN ỨNG DỤNG KHOA HỌC – CÔNG NGHỆ TRONG XÂY DỤNG

Các phương pháp chung đánh giá, so sánh các phương án ứng dụng khoa học – công nghệ trong xây dựng gồm:

–  Phương pháp dùng chỉ tiêu tổng hợp không đơn vị đo để xếp hạng phương án

–  Phương pháp giá trị – giá trị sử dụng

-Phương pháp dùng một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp kết hợp vòi một hệ chỉ tiêu bổ sung

– Các trường hợp so sánh riêng rẽ theo chỉ tiêu kinh tế tổng hợp

(Nội dung mục 1.6 này được trình bày cụ thể trong mục 3.6)

 

phương pháp xác định hạ giá thành

vài sơ đồ bố trí không gian và sự di chuyển nhất định đã được thiết kế trước để thực hiện một quá trình xây lắp công trình.

Tiến bộ khoa học công nghệ trong xây dựng là sự không ngừng hoàn thiện và đổi mới công nghệ để ứng dụng vào sản xuất xây dựng tạo ra hiệu quả lớn nhất.

Các bộ phận của công nghệ có liên quan đến việc chuyển giao công nghệ bao gồm:

–  Phần cứng là toàn bộ máy móc, thiết bị, dụng cụ được sử dụng trong công nghệ, giữ vai trò quan trọng.

–    Phần mềm giữ vai trò quyết đinh là:

+ Con người tương ứng với một trình độ nghề nghiệp nhất định sử dụng nó.

+ Những thông tin công nghệ: tri thức, khái niệm, công thức, quy trình, kinh nghiệm được tích luỹ hoặc nhũng bản quyển công nghiệp.

+ Yếu tố về mặt tổ chức đó là sự liên kết phối hợp tất cả các yếu tố để thực hiện được công nghệ đó.

1.5. PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA ĐẦU TƯ KỸ THUẬT MỚI

1.5.1.  Phương pháp xác định mức hạ giá thành

Ta cần chia nội dung chi phí trong giá thành thành hai nhóm là nhóm chi phí cố định và nhóm chi phí biến đổi.

Gọi:     Ztg – tổng giá thành sản phẩm sản xuất hàng loạt trong năm;

z – giá thành một đơn vị sản phẩm;

p – chi phí biến đổi tính cho một đơn vị sản phẩm;

F – chi phí cố định của doanh nghiệp trong năm;

n – số lượng sản phẩm sản xuất trong năm của doanh nghiệp.

Nhận xét: đồ thị của hàm z biểu thị một đường hypecbol vuông góc, với đường tiệm cận là z = p, nên khi số lượng sản phẩm tăng rất nhiều (ứng với thời kỳ sản xuất hàng loạt) thì giá thành một đơn vị sản phẩm chủ yếu phụ thuộc vào chi phí biến đổi p, vì vậy muốn hạ giá thành sản phẩm phải tìm cách hạ thấp chi phí biến đổi. Nếu chia đồ thị làm ba vùng:

–  Vùng I: (giai đoạn sản xuất đơn chiếc) đenta n1 nhỏ mà ddenta Z1 lớn, sản phẩm tăng ít nhưng giá thành hạ được nhiều, nên hạ giá thành bằng cách tăng số lượng sản phẩm.

-Vùng II: (giai đoạn chuyển tiếp) An2 và AZ2 không có mối quan hệ rõ rệt, nghĩa là việc hạ giá thành sản phẩm và việc tăng số lượng sản phẩm không theo quy luật nhất định.

– Vùng III: (giai đoạn sản xuất hàng loạt), An, lớn nhưng AZ3 nhỏ, nghĩa là số lượng sản phẩm tăng rất nhiều nhưng giá thành sản phẩm hạ ít. Do vậy muốn hạ giá thành, thì ngoài việc cần tãng số lượng sản phẩm lên rất nhiều, còn phải nghĩ cách giảm chi phí biến đổi P.

Trường hợp có nhiều phương án cần , so sánh, ta có thể tiến hành như sau:

Giả thiết có 2 phương án với z, = P|I1 + Fj * 7j2 = P2n + F2, ta cần tìm điểm sản lượng cân bằng ký hiệu lànn.

Do P| khác P2 và Fị khác F2 nên 2 đường thẳng Zj(n) và z 2(n) giao nhau tại điểm nn, điểm nn tìm ra từ công thức sau:

Xác định được giá trị Z](nn) và Z2{.nt), từ đó chọn phương án có giá thành nhỏ hơn.

Xem hình 1.2 ta thấy:

Với quy mô sản xuất từ 0 —» nn thì phương án 1 có giá thành nhỏ hơn, (tốt hơn);

Với quy mô sản xuất từ nn -»00 thì phương án 2 có giá thành nhỏ hơn, (tốt hơn).

– Chi phí bất biến(chi phí cố định hay định phí) của doanh nghiệp trong một thời đoạn (thường là một năm) là loại chi phí không thay đổi, không phụ thuộc vào khối lượng sản phẩm sản xuất ra trong năm. Ví dụ chi phí cho bộ máy quản lý, lãi trả nợ dài hạn, chi phí khấu hao tài sản cố định v.v… Tính bất biến ở đây chỉ là tương đối và giữ nguyên trong một khoảng quy mô khối lượng sản phẩm nhất định trong năm. Trong thực tế khi khối lượng sản xuất trong một năm tăng lên thì mức chi phí bất biến cũng có thể

 

Các chỉ tiêu trình độ áp dụng lắp ghép

xây dựng. Tại hiện trường xây dụng người ta chỉ tiến hành công tác đất, công tác lắp và công tác hoàn thiện.

Quá trình áp dụng cấu kiện lắp ghép trải qua giai đoạn:

  • Lắp ghép bộ phận: chỉ có một số cấu kiện đơn giản được thi công bằng phương pháp láp ghép, như móng, cột, dầm, sàn, lanh tô.. Các cấu kiện có thể lắp ghép bằng máy hoăc bằng thủ công. Đặc điểm của giai đoạn này là các cấu kiện lắp ghép được đúc tại công trường, trừ một số cấu kiện có thể định hình hoá được thì đúc sẵn ở nhà máy như pa nen cột điện. Trên công trường thực hiện công tác đất, lắp ghép và công tác hoàn thiện.

Lắp ghép toàn bộ: hầu hết các cấu kết công trình đều được thi công bằng phương pháp lắp ghép. Các cấu kiện lắp ghép có thể là tấm lớn. Dây chuyền lắp ghép hiện đại bằng máy, tổ máy gồm có ô tô vận chuyển cấu kiện và cần trục cẩu lắp. Trên công trường thực hiện các công việc như xử lý mối nối và hoàn thiện.

Lắp ghép ở trình độ cao: lắp ghép cả căn hộ với mức độ hoàn thiện cao trong nhà máy.

  1. Các chỉ tiêu trình độ áp dụng lắp ghép

a, Mức độ lắp ghép:

Glg- giá trị của các cấu kiện thi công bằng phương pháp lắp ghép, (gồm giá trị bản thân cấu kiện và giá trị của công tác lắp dựng cấu kiện ngoài hiện trường xây lắp).

Glg, – giá trị cấu kiện lắp ghép, không bao gồm chi phí lắp ghép ngoài hiện trường xây lắp;

G – tổng giá trị công trình;

GVl – giá trị vật liệu trong giá trị công trình.

  1. Mức hoàn thiện các cấu kiện lắp ghép:

Trong đó: Tm – hao phí lao động để chế tạo cấu kiện đúc sẵn trong nhà máy;

Tht – hao phí lao động để hoàn thiện tiếp cấu kiện đó tại hiện trường.

  1. Các thông số lắp ghép

–      Số loại cấu kiện lắp ghép;

–      Trọng lượng các cấu kiện lắp ghép (tối đa, tối thiểu và trung bình);

–      Kích thước các cấu kiện lắp ghép (tối đa, tối thiểu và trung bình).

  1. Hiệu quả kinh tế do áp dụng két cấu lắp ghép đúc sẵn

Áp dụng các kết cấu lắp ghép mở ra một khả năng lớn cho việc phát triển và thực hiện công nghiệp hoá Ngành xây dụng;

Hạn chế được ảnh hưởng của thời tiết nên năng suất lao động cao, rút ngắn thời gian thi công;

Tiết kiệm nguyên vật liệu do điều kiện chế tạo cấu kiện trong nhà máy thuận tiện hơn và tiết kiệm hao phí ván khuôn, đà giáo trên công trường;

Nâng cao chất lượng sản phẩm cấu kiện, giảm giá thành xây lắp;

Tạo ra cho ngành xây dựng một khả nâng mới trong việc sử dụng vật liệu mới, hình thức kết cấu mới, tiên tiến, hợp lý, hiệu quả. Đồng thời thay đổi một cách căn bản tổ chức lao động trên công trường;

  1. Điều kiện áp dụng kết cấu lắp ghép

Xây dựng và nâng cao nãng lực sản suất cho các xí nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng và phân bố cho các khu vực trong cả nước;

Thực hiện cải tiến toàn diện các kết cấu đúc sẵn để mở rộng kích thước, giảm tới mức tối đa trọng lượng các kết cấu đúc sẵn;

Nâng cao trình độ định hình hoá và tiêu chuẩn hoá thiết kế, giảm số loại kết cấu và sử dụng những kết cấu đơn giản để áp dụng lắp ghép đúc sẵn;

Áp dụng các hình thức tổ chức sản xuất và tổ chức lao động tiên tiến;

Nâng cao trình độ mọi mặt cho cán bộ công nhân viên ngành xây dựng.

1.4.3. Áp dụng công nghệ xây dựng tiên tiến

1. Khái niệm

  1. Khái niệm về công nghệ;

Hiện nay có khá nhiều khái niệm về công nghệ mà đại diện có thể xem xét hai khái niệm sau:

Công nghệ là hệ thống các kiến thức về quy trình và kỹ thuật dùng để chế biến các yếu tố sản xuất và thông tin để tạo ra một sản phẩm nhất định nào đó.

Công nghệ là hệ thống các kiến thức kể cả những máy móc thiết bị dụng cụ được con người sử dụng để tạo ra một sản phẩm nào đó. Hoặc khái quát hơn: công nghệ là tất cả những gì mà con người sử dụng để biến đổi các yếu tố đầu vào nhằm tạo ra một sản phẩm đầu ra nào đó.

  1. Khái niệm về công nghệ xây dựng:

Công nghệ xây dựng là sự phối hợp giữa con người với máy móc thiết bị thi công với vật liệu và cấu kiện xây dựng theo một trình tự thi công và mặt bằng thi công phù hợp

Các chỉ tiêu cơ giới hóa

Gọi:   Ki là hộ số nâng cao hiệu suất của máy móc, thiết bị trong một giờ.

K2 là hệ số nâng cao số giờ làm việc của máy móc, thiết bị trong một ca.

K3 là hệ số nàng cao số ca làm việc của máy móc, thiết bị trong một năm.

Thì hệ số nâng cao hiệu suất làm việc của máy móc, thiết bị trong một năm là:

Khs = K| .K2.K3 = Kc- K3                                    (1.20)

Trong đó: Kc là hệ số nâng cao hiệu suất của máy móc, thiết bị trong một ca.

  1. Xác định mức tiết kiệm vốn đầu tư mua sắm thêm máy móc, thiết bị (Hms) do yêu cầu nâng cao khối lượng công tác trong một năm (Kk) và hệ số nâng cao hiệu suất làm việc của máy móc. thiết bị trong một năm là KHS:

Gọi: Kk là hệ số tăng khối lượng của máy móc, thiết bị trong một năm.

Zm là giá thành mua nhóm máy hoặc thiết bị trước khi tăng khối lượng công tác và trước khi nâng cao hiệu suất làm việc của máy móc, thiết bị.

Suy ra:

–     Số tiền cần mua nhóm máy khi chưa nâng cao hiệu suất:                   Zm.  Kk

–     Số máy móc thực tế cần mua thêm khi đã nâng cao hiệu suất:

– SỐ tiền tương ứng với nhóm máy này:

Nên vốn đấu tư mua nhóm máy tiết kiệm được là:

(1.21)
  1. Xác định mức tiết kiệm chi phí sử dụng máy móc, thiết bị (H0) do biến động vể giá cả (có ảnh hướng trực liếp tới máy móc, thiết bị như: giá điện lực, giá xăng, dầu và các chi phí cần tiêu thụ khác…) đồng thời có kể đến hộ số nâng cao hiệu suất làm việc của máy móc, thiết bị trong một ca (Kc):

Gọi: A là tỷ suất khấu hao hàng năm của máy móc, thiết bị;

Kk và Zm (như mục b ớ trên);

Gnh| là giá điện lực. giá xãng. dầu và các chi phí cần tiêu thụ khác… khi nhóm máy phục vụ ớ thời kỳ trước;

Kc là hệ số nâng cao hiệu suất của máy móc, thiết bị trong một ca;

Kn là hệ số nỗ lực chủ quan cúa đơn vị.                                f


HI ■                                                                                       Kk

–                                                                                                                                                           vể khấu hao tiết kiệm được:                                           (A.Zm.Kk—A.Zm.—n)

Kc

–   Vé biến động giá cả tiết kiệm (hoặc tăng giá) là:

(Gnhl.Kk – Gnh,Kk.Kc)

Tổng quát:

Tổng quát
1
+ Gnh,Kk(l-Kc)
(1.22)
K,
d. Xác định mức tiết kiệm chi’phí lao động (H|đ) do yêu cầu nâng cao khối lượng công tác trong một năm (Kk) và hệ số nâng cao hiệu suất làm việc của máy móc, thiết bị trong một năm là KHS:

Gọi: y là hao phí lao động của một công nhân hoàn thành khối lượng công tác ở thời kỳ trước.

Suy ra: Hao phí lao động khi chưa nâng cao hiệu suất:

Hao phí lao động khi đã nâng cao hiệu suất:

Nên:
1
(1.23)
Trong đó: n – số ngày làm việc của một công nhân trong năm.

e. Xác định tỷ lệ % giảm thời gian bình quân cho một loại công tác xây lắp khi nâng cao hệ số sử dụng hiệu suất của máy móc, thiết bị trong một ca:

Kt =
. 100%
(1.24)
1.4.2. Áp dụng kết cấu láp ghép, đúc sẫn 1. Khái niệm và các giai đoạn phát triển

Các bộ phận, kết cấu lắp ghép là những bộ phận hoặc cấu kiện của công trình xây dựng được chế tạo sơ bộ hoặc tương đối hoàn chỉnh ở một nơi khác ngoài hiện trường

Tính mức hạ giá thành công tác xây lắp do nâng cao trình độ cơ giới hóa

B. Tính mức hạ giá thành công tác xây lắp do nâng cao trình độ cơ giới hoá

  1. Tính giá thành bình quân 1 đơn vị công tác xây lắp Gọi:

Zhq – giá thành bình quân một đơn vị công tác;

Zm – giá thành một đơn vị công tác phần làm bằng cơ giới;

ZịC – giá thành một đơn vị công tác phần làm bằng thủ công;

Km – trình độ cơ giới hoá của công trình;

100% – tổng khối lượng công tác của công trình;

Suy ra: K m là khối lượng công tác xây lắp thực hiện bằng máy;

(100 – Km) là khối lượng công tác xây lắp thực hiên bằng thủ công.

Zbq=Zm •Km+Ztc(100-Km)

  1. Tính mức hạ giá thành một đơn vị công tác xây lắp

Gọi ZiK., Z2bt là giá thành bình quân một đơn vị công tác xây lắp trước và sau khi nâng cao trình độ cơ giới hoá.

e. Tính tỷ lệ % hạ giá thành công tác xây lắp của hạng mục công trình:

Trong đó: Yzj – tỷ trọng giá thành loại công tác thứ j trong tổng giá thành công tác xây lắp của hạng mục công trình:

K Zj – tỳ lệ hạ giá thành bình quân một đơn vị công tác loại.

  1. Tính giảm thời gian xây dựng do nâng cao trình độ cơ giới hoá

a. Tính thời gian bình quân để hoàn thành 1 loại công tác của hạng mục công trình

Gọi:Q – khối lượng của một loại công tác xây lắp;

Nbq – năng suất lao động bình quân của một công nhân;

Sbq – số lượng công nhân bình quân trong danh sách;

Tbq – thời gian bình quân để hoàn thành một loại công tác:

Tbq =J7-Q– (ngày)              (1.16)

1Nbq –àbq

  1. Tính tỷ lệ % giảm thời gian bình quân để hoàn thành một loại công tác:

T*bq > T2^ – thời gian bình quân để hoàn thành một loại công tác trước và sau khi nâng cao trình độ cơ giới hoá.

Nhận xét: do nâng cao trình độ cơ giới hoá dẫn đến năng suất lao động tăng KN lần và số công nhân giảm Ks lần thì:

  1. Tính tỷ lệ  % giảm thời gian bình quân để hoàn thành hạng mục công trình

Gọi:Yịj _    tỷ trọng thời gian binh quân để hoàn thành loại công tác xây lắp thứ thuộc hạng mục công trình;

Kjj – tỷ lệ % giảm thời gian bình quân để hoàn thành một loại công tác.

D. Tính hiệu quả kinh tế do cải tiến sử dụng máy móc, thiết bị

  1. Tính hệ số nâng cao hiệu suất làm việc của máy móc, thiết bị trong một năm

Phương hướng cơ giới hoá xây dựng

Với bán cơ giới thì chỉ bộ phận công tác thực hiện bằng máy móc, còn bô phận động lực phải dùng sức người, sức thiên nhiên, hoặc súc vật.

Với cơ giới hoá thì cả bộ phân động lực và bộ phận công tác đều thực hiện bằng máy, bỏ phận điểu khiển do con người đảm nhiệm.

Với tự động hoá thì cả ba bộ phận công tác, động lực và điều khiển đều thực hiện bằng máy, con người chỉ quan sát, kiểm tra sự hoạt động của máy.

Quá trình phát sinh và phát triển cơ giới hoá trong xây dựng trải qua ba giai đoạn:

–         Giai đoạn cơ giới hoá bộ phận: là giai đoạn mà máy móc đảm nhận từng phần công việc trong quá trình thi công xây lắp, như trộn bê tông, đầm bê tổng,…trong giai đoạn này lao động thủ công là chính và lao động cơ giới chiếm tỷ trọng thấp.

–         Giai đoạn cơ giới hoá toàn bộ: là giai đoạn máy móc thay thế hầu hết sức lao động của con người trong quá trình sản xuất. Trong giai đoạn này lao động cơ giới là chính và lao động thủ công chiếm tỷ trọng thấp.

–         Giai đoạn nửa tự động và tự động hoá: là giai đoạn mà máy móc thay thế toàn bộ sức ỉao động của con người trong quá trình sản xuất. Con người trong giai đoạn này chỉ thực hiện nhiệm vụ kiểm tra sự hoạt động của máy theo những chương trình đã được lập sẵn.

  1. Phương hướng cơ giới hoá xây dựng

–         Cơ giới hoá tối đa các công tác xây dựng có tính chất nặng nhọc và những khối lượng xây dụng lớn tập trung.

–         Cơ giới hoá hợp lý từng bước, tiến tới cơ giới hoá toàn bộ quá trình thi công xây lắp và công tác vận chuyển. Nghiên cứu áp dụng tự động hoá ở một số khâu.

–         Kết hợp chặt chẽ trang bị những máy có công suất lớn vừa và nhỏ hợp lý. Phát triển và hoàn thiện các dụng cụ cơ khí nhỏ cầm tay dẻ phục thi công.

–  Phối hợp tốt giữa máy chuyên dùng và máy đa năng.

–  Phải đảm bảo tính thuần nhất, để tổ chức sử dụng và sửa chữa máy móc thiết bị.

–  Phải đảm bảo độ bền chắc và độ tin cậy của máy xây dựng.

–         Trang bị máy xây dựng gắn liền với việc phát triển các mầu nhà, các loại kết cấu và vật liêu xây dựng và các công nghệ xây dựng được áp dụng.

–  Phải phù hợp với trình độ tổ chức quản lý và trình độ sử dụng của con người.

–  Phải phân tích, so sánh và lựa chọn phương án tối ưu đảm bảo chỉ tiêu hiệu quả kinh tế cao.

  1. Cấc chỉ tiêu cơ giới hoá

a. Mức độ cơ giới hoá công tác

Mức độ cơ giới hoá của một loại công tác xây lắp:

Trọng đó: Pm – tổng công suất máy móc thiết bị của đơn vị;

Vm – tổng giá trị máy móc thiết bị thi công của đơn vị;

V – tổng vốn đầu tư của đơn vị, gồm vốn cố định và vốn lưu động.

4. Phương pháp xác định hiệu quả kinh tế của việc cơ giới hoá

A. .Tính lượng lao động tiết kiệm được do nâng cao trình độ cơ giới hoá

a/: Tính năng suất lao động bình quân của một công nhân

Nbq – năng suất lao động bình quân của một công nhân;

Ntc – năng suất lao động của một công nhân thủ công;

Nm – năng suất lao động của một công nhân cơ giới;

Km – trình độ cơ giới hoá của công trình.

100% – tổng khối lượng công tác của công trình.

Suy ra: Km là khối lượng công tác xây lắp thực hiện bằng máy;

(100 – Km) là khối lượng công tác xây lắp thực hiện bằng thủ công; (100 : Nix.) là số công nhân bình quân;

(Km : Nm) là số công nhân cơ giới;

(100 – Km): Nm là số công nhân thủ công.

100 Km 100 -Km

Nbq Nm Ntc

100.Nm H

Nbq =

Km .Ntc +(100-Km ).Nm

  1. Tính lượng lao động tiết kiệm cho 1 đơn vị công tác xây lắp

Gọi:   Elà lượng lao động tiết kiệm cho 1 đơn vị công tác;

N1bq, N2bq là năng suất lao động bình quân của 1 công nhân trước và sau khi nâng cao trình độ cơ giới hoá.

Giả thiết N2bq > N1bq ta có:                                                                                    s

c. Tính tổng số lao động tiết kiệm của một loại công tác xây lắp

Gọi:    Elg – tổng số lao động tiết kiệm được;

Qtg– tổng khối lượng công tác thực hiện sau khi nâng cao trình độ cơ giới hoá:

Vai trò của tiến bộ khoa học – công nghệ trong xây dựng

– Gây tác động xấu đến môi trường;

Công bằng xã hội bị ảnh hưởng, phân biệt giàu nghèo do sự phân tầng các ngành nghề có thu nhập cao, thấp, vấn đề thất nghiệp v.v.

Những khía cạnh về tâm lí, tình cảm, lối sống theo truyền thống, bản sắc dên tộc bị ảnh hưởng do xu thế hoà nhập.

4. Vai trò của tiến bộ khoa học – công nghệ trong xây dựng

Phát triển lực lượng sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật và phát triển công nghiêp hoá xây dựng;

Phát triển, hoàn thiện các hình thức tổ chức sản xuất và quản lý kinh tế trong xây dựng; Giảm nhẹ quá trình lao động, dần dần thay thế lao động thủ công bằng máy móc, trên cơ sở đó tạo điều kiện hoàn thiện người lao động;

Nâng cao năng suất lao động, tiết kiệm hao phí lao động, và nguyên, nhiên, vật liệu.

Hạ giá thành sản phẩm xây dựng và nâng cao chất lượng sản phẩm xây dựng.

1.3.2. Phương hướng phát triển và ứng dụng khoa học công nghệ trong xây dựng

1. Những nhân tố ảnh hưởng

Phương hướng phát triển và ứng dụng khoa học công nghệ trong xây dựng chịu ảnh hưởng của các nhân tố sau:

–     Các đặc điểm kinh tế – kỹ thuật của sản xuất xây dựng;

–     Các đặc điểm kinh tế và tự nhiên của đất nước, đường lối phát triển khoa học công nghệ của Đảng và Nhà nước;

–     Nhu cầu của thị trường xây dựng cũng như các nhiệm vụ xây dựng theo kế họach của Nhà nước;

–     Các thành quả trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học và công nghệ xây dựng, khả năng cung ứng của thị trường xây dựng;

– Khả năng đáp ứng của các doanh nghiệp về vốn, về trình độ quản lý và sử dụng công nghệ xây dựng;

2. Một số phương hướng phái triển và ứng dụng khoa học công nghệ trong xáy dụng

– Đối với máy móc và công cụ lao động xây dựng phải đẩy mạnh áp dụng cơ giới hoá, từng bước áp dụng tự động hoá một cách hợp lí, nâng cao tính cơ động và linh hoạt của máy móc, chú trọng phát triển cơ khí nhỏ, áp dụng công cụ cải tiến, kết hợp giữa cách đi tuần tự và đi tắt đón đầu trong phát triển công nghệ xây dựng.

– Đối với đối tượng lao động (vật liệu và kết cấu xảy dựng) phải đẩy mạnh việc áp dụng các loại vật liệu có hiệu quả, các loại kết cấu tiến bộ, nhất là các loại vật liệu và kết câu nhẹ cho phép xây dựng nhanh và các loại vật liệu có độ bền cao phù hợp với

Điều kiện nhiệt đới ẩm; phải tận dụng những thành tựu của hoá học hóa trong phát triển vật liệu xây dựng, kết hợp tốt giữa sử dụng vật liệu hiện đại với vật liệu truyền thống và giữa phương pháp đúc xây tại chỗ với áp dụng kết cấu lắp ghép đúc sẵn cải thiện chất lượng của các loại vật liệu truyền thống, chú ý bảo vệ môi trường và tiết kiệm đất đai nông nghiệp.

– Đối vói công nghệ xây dựng: trong quá trình sản xuất xây dựng phải dặc biệt chú ý cải tiến phần cứng của công nghệ. Phải chú ý phát triển và ứng dụng các quy trình công nghệ xây dựng tiên tiến dựa trên khả năng máy móc, nhân lực và vật liệu xây dựng hiện cố. Chú ý áp dụng công nghệ xây dựng theo kiểu đây chuyền, công nghệ xây dựng trong điều kiện nhiệt đới, đồng thời phải lựa chọn trình độ hiện đại của công nghệ xây dựng một cách hợp lý về mặt kinh tế (nhất là các vấn đề về mức cơ giới hoá, tự động hoá và tin học hoá), áp dụng sơ đồ mạng trong công nghệ xây dựng.

Trước mắt cần chú ý hoàn thiện và cải tiến các công nghệ xây dựng truyền thống, phát triển đối đầu một số công nghệ tiên tiến như công nghệ xây dựng và sửa chữa công trình biển (nhất là dàn khoan), công nghệ xây dựng nhà cao tầng, công nghệ xây dựng công trình ngầm và dưới nước, công nghệ xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng hiện đại, công nghệ xây dựng đòi hỏi chất lượng cao, mĩ thuật cao (nhất là đối với các công trình của nước ngoài), một số công nghệ xây dựng chịu ảnh hưởng của điều kiện nhiệt đới rõ rệt (như công nghệ đổ bê tông, xử lý hầm ngầm, công nghệ xây dựng trong mùa mưa bão, công nghệ chống thấm dột .V.V.).

–    Đối với công tác thiết kế cần đẩy mạnh áp dụng tự động hoá trong thiết kế với sự trợ giúp của tin học, áp dụng các thành quả tính toán của lĩnh vực cơ học xây dựng, nắng cao chất lượng của công tác thăm dò khảo sát phục vụ thiết kế xây dựng…

–    Đối với công tác quản lí cần đẩy mạnh việc áp dụng tự động hoá trong quản lí, nhất là đối với các khâu thu nhận, bảo quản và xử lí thông tin, chỉ đạo điều hành tác nghiệp, lựa chọn các giải pháp tối ưu cho sản xuất v.v.

–    Đối với lĩnh vực tiêu chuẩn và quy phạm xây dụng cần phải được tiếp tục hoàn thiện bổ sung có tham khảo các tiêu chuẩn và quy phạm quốc tế.

1.4. MỘT SỐ ĐẶC TRƯNG CỦA TIẾN BỘ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ TRONG XÂY DỰNG

1.4.1. Cơ giới hoá trong xây dựng

1. Khái niệm                                                                                                                      ,ii

Cớ giới hoá là sự chuyển quá trình thi công xây dựng từ lao động thủ công sang lao động bằng máy.

Cần phân biệt các khái niệm chung là: bán cơ giới, cơ giới hoá và tự động hoá.


Sản phẩm của Ngành xây dựng thường sản xuất theo phương pháp đơn chiếc, thi công công trình thường theo đơn đặt hàng của chủ đầu tư

kết cấu láp ghép chế tạo sẵn một cách hợp lý, nâng cao trình độ cơ giới hoá xây đựng để giảm thời gian thi công ở hiện trường;

–      Phải đảm bảo độ bền chắc và độ tin cậy của các thiết bị, máy móc xây dựng;

–      Phải chú ý cải thiện điều kiện lao động cho người lao động;

–      Phải quan tăm phát triển phương pháp xây dựng trong điều kiện khí hậu nhiệt đới tìm ra các biện pháp thi công hợp lý, phối hợp các công việc thi công trong nhà và ngoài trời. Kịp thời điều chỉnh tiến độ thi công bằng các phương pháp kỹ thuật hiên đại trong quản lý.

5. Sản phẩm của Ngành xây dựng thường sản xuất theo phương pháp đơn chiếc, thi công công trình thường theo đơn đặt hàng của chủ đầu tư

Đặc điểm này gây nên một số tác động đến quá trình sản xuất xây dựng đổng thời tác động trực tiếp tới giá cả của sản phẩm như:

–      Sản xuất xây dựng của các tổ chức xây dựng có tính bị động và rủi ro cao vì nó phụ thuộc vào kết quả đấu thầu.

–      Việc thống nhất hoá, điển hình hoá các mẫu sản phẩm và công nghệ chế tạo sản phẩm xây dựng gặp nhiẻu khó khăn, vì cùng một loại công trình xây dựng, nhưng nếu được xây dựng ở các địa điểm khác nhau và các thời điểm khác nhau, chúng sẽ cố cấu tạo và công nghệ chế tạo khác nhau.

–      Không thể xác định thống nhất giá cả cho một đơn vị sản phẩm cuối cùng, giá cả của chúng phải được xác định trước khi chế tạo trong hợp đồng giao nhận thẩu hoặc dấu thầu. Do đó doanh nghiệp xây dựng phải thực sự coi trọng công tác ký hợp đổng, tìm hiểu kỹ đặc điểm và yêu cầu kỹ thuật, đặc điểm kinh tế xã hội của địa phương: để có các biện pháp kỹ thuật, quản lý hợp lý nhằm đảm bảo chất lượng, thời hạn và hiệu quả kinh tế cao.

Ngoài những đặc điểm gây nên những bất lợi kể trên thì những đặc điểm mang tính thuận lợi tạo sự hấp dẫn trong sản xuất xây dựng đó là các nhà thầu được biết trước: thị trường tiêu thụ, yêu cầu chất lượng sản phẩm, thời gian giao hàng, thu nhập tính trước và được chủ đầu tư (người mua) tạm ứng vốn sản xuất theo tiến độ thi công.

Ngoài ra, ở Việt Nam có những đặc điểm xuất phát từ hoàn cảnh kinh tế xã hội, đã tác động không nhỏ tới công tác tổ chức sản xuất trong toàn Ngành xây dựng. Lực lượng xà) dựng ở nước ta rất đông đảo, đa dạng các loại hình tổ chức và hoạt động, song còn phân tán manh mún, chưa tập trung thành những doanh nghiệp có quy mô lớn, trình độ trang bị máy móc thiết bị tiên tiến còn rất hạn chế. Đội ngũ công nhân lành nghể thiếu nhiều. Do đó khả năng đáp ứng yêu cầu của công cuộc công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước còn thấp, khả năng canh tranh với các tập đoàn xây dựng quốc tế để thắng thầu các công trình có quy mô lớn, kỹ thuật phức tạp còn hạn chế. Biện pháp hữu hiệu là thành lập hiệp hội các nhà thầu nhằm tăng khả năng canh tranh đối với các nhà thầu quốc tế.

1.3 NHỮNG VẤN ĐỂ CHUNG CỦA TIẾN BỘ KHOA HỌC – CÔNG NGHỆ TRONG XÂY DỰNG

1.3.1. Khái niêm, phân loại và vai trò của tiến bộ khoa học – công nghệ

1. Khái niệm

Khoa học công nghệ là tổng hợp cơ sở vật chất và phương pháp công nghệ do con người sang lạo ra và sử dụng nó trong quá trình lao động để tạo ra của cải vật chất cho xã hội.

Tiến bộ khoa học công nghệ là không ngừng phát triển và hoàn thiện các tư liệu lao động và đối tượng lao động, áp dụng các công nghệ sản xuất tiên tiến và hình thức hiệu quả trong tổ chức sản xuất và tổ chức lao động ở nước ta cũng như trên thế giới.

2. Phân loại tiến bộ khoa học công nghệ trong xây dựng

Tiến bộ khoa học – công nghệ trong lĩnh vực xây dựng cơ bản biểu hiện ở tất cả các khâu từ tổ chức quá trình sản xuất xây dựng đến tổ chức quản lý Ngành xây dựng. Cụ thể:

Trong lĩnh vực đầu tư: nghiên cứu dự án, khảo sát, thiết kế xây dụng;

Trong lĩnh vực xây lắp: gia cố nền; xử lý nền móng; công nghệ bê tông: công nghệ thép; công nghệ cốp pha, dàn giáo; hoàn thiện; xử lý chống thấm;

Trong lĩnh vực tổ chúc ở các xí nghiệp sản xuất phụ trợ: sản xuất vật liệu và cấu kiện xây dựng; cung ứng vật tư và các dịch vụ xây dựng; chế tạo sửa chữa máy móc thiết bị xây dựng;

Trong lĩnh vực trang trí hoàn thiện, xử lý chống thấm, vi khí hậu và vật lý kiến trúc công trình;

Trong lĩnh vực đào tạo cán bộ công nhân xây dựng và quản lý xây dựng.

3. Vai trò của tiến bộ khoa học – công nghệ nói chung

Nghiên cứu vai trò của tiến bộ khoa học – kỹ thuật nói chung người ta thấy rõ bản chất hai mặt của nó.

  1. Vai trò tích cực: tiến bộ khoa học – công nghệ giữ vai trò quan trọng trong các Vấn đề sau:

Thúc đẩy sự phát triển xã hội loài người do của cải vật chất làm ra ngày càng dồi dào, thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của xã hội, mức sống được nâng cao;

Tạo điều kiện xuất hiện các ngành nghề mới, các ngành công nghệ cao, mũi nhọn đã kích thích các ngành kinh tế khác phát triển;

Góp phần chuyển dịch đáng kể cơ cấu kinh tế – xã hội tạo cho nền kinh tế có thu nhập cao và xã hội ngày càng phồn vinh;

Phát triển lực luợng sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế quốc dân

  1. Tác động tiêu cực: Khi áp dụng tiến bộ khoa học – công nghệ nó cũng có thể gây tác

động xấu trong một số mặt trong đời sống kinh tế – xã hội nếu không có sự quản lý và điều tiết hợp lý: