Phân loại tiến độ theo đối tượng để lập tiến độ

Với tư vấn giám sát thì tiến độ thi công xây dựng công trình là kế hoạch của nhì thầu dược cụ thể hóa cho từng công việc với thời hạn hoàn thành việc xây dựng công trình do chủ đầu tư thương thảo với nhà thầu và ký kết trong hợp đồng. Còn tiến độ để giám sát là tiến độ kế hoạch của nhà thầu chuyển theo lịch làm việc (Calendar) đã được nhà thầu và chủ đầu tư đồng ý.

Quản lý liến độ thi công xây dựng là một trong những mục tiêu quan trọng của quản lý dự án. Giám sát tiến độ thi công xây dựng là nhiệm vụ của lư ván giám sái nhưng dế hoàn thành việc xây dựng dúng tiến độ cán sự phối hợp của bộ ba: Chủ đầu tư – Nhà thầu thi công – Tư ván giám sát. Vì vậy, phải hiểu rõ về tiến độ mới có thể quản lý và giám sát được.

3.4. Tiến độ xây dựng

Tổ chúc thời gian thục chất là lập kế hoạch vé thời gian, trong ngành Xảy dụng kế hoạch thời gian chính là ‘‘tiến độ xây dựng”.

Mục đích cần nghiên cứu:

– Bản chất của việc lập kế hoạch.

– Lập kế hoạch liên quan đến nhũng vấn đề gì?.

–    Các loại kế hoạch.

–    Các bước lập kế hoạch.

  • Mối quan hệ giữa kế hoạch và công nghệ xây dựng.

–    Sự mềm dẻo trong kế hoạch.

–    Các cơ sở khoa học để lập kế hoạch.

Bân chất của việc lập kế hoạch:

Lập kế hoạch là quyết định trước những câu hỏi để dạt được một mục tiêu là:

_ Phải làm những cái gì?

–   Cách làm như thế nào, làm ở đâu?

–   Khi nào làm? Làm vào thời điểm nào và hết bao nhiêu thời gian?

– Người nào phải làm cái đó?

Kế hoạch là quyết định các sự việc phải làm theo một dự báo trong tương lai. Tuy nhiên, việc dự báo tương lai khó chính xác, đôi khi nằm ngoài dự kiến của con người. Rất nhiều yếu tố có thể phá vỡ cả những kế hoạch là tốt nhất, ta gọi đó là các yếu tố ngẫu nhiên, nhưng nếu không lập kế hoạch thì sự việc hoàn toàn xảy ra một cách tuỳ tiện và có thể dẫn đến hỗn loạn.

a) Phân loại tiến độ theo đối tượng để lập tiến độ

+ Tổng tiến độ xây dựng:

Đây là dạng tiến độ lớn nhất có độ phức tạp nhất được lập để xây dựng một liên hiệp công trình hoặc một công trình xây dựng lớn bao gồm nhiều công trình nhỏ.

Ví dụ: Nhà máy Xi măng Nghi Sơn là một công trình lớn, bao gồm rất nhiều công trình nhỏ như; phân xưởng sản xuất Clinker, ống khói, cụm xilô chứa xi măng bột, kho chứa xi măng đóng bao… Thời gian trong tổng tiến độ thường lấy đơn vị là tuần hoặc tháng và mối quan hệ công việc trong tổng tiến độ là mối quan hệ giữa các công trình nhỏ với nhau trong một kế hoạch chung, nhằm hoàn thành việc xây dựng liên hợp công trình hoặc cả công trình lớn.

Hồ sơ đăng ký cấp chứng chỉ hành nghề giám sát thi công xây dựng công trình

  1. Cá nhân giám sát thi công xây dựng công trình:

–    Của chủ dầu tư tự giám sát

–      Của các tổ chức tư vấn giám sát

–      Hành nghề độc lập.

Bắt buộc phải có chứng chỉ hành nghề khi giám sát thi công xây dựng công trình

  1. Cá nhân đang là công chức làm việc trong các cơ quan hành chính Nhà nước, không được cấp chứng chỉ hành nghề giám sát xây dựng công trình (Quy chế 12/2005/QĐ-BXD).
  2. Cá nhân đảm nhận các chức danh

–      Chủ nhiệm đổ án thiết kế quy hoạch xây dựng.

–      Chủ nhiệm đổ án thiết kế xây dựng công trình.

–      Chủ nhiệm khảo sát xây dựng.

–    Giám sát thi công xây dựng.

–    Cá nhân hành nghể độc lập (thiết kế, giám sát).

Chỉ được ký hợp đồng lao động dài hạn với một tổ chức theo quy định của pháp luật

  1. Cá nhân đảm nhận các chức danh

–    Giám đốc tư vấn quản lý dự án.

–    Chỉ huy trưởng công trường.

–    Giám sát thi công xây dựng.

Không được đồng thời đảm nhận quá một công việc theo chức danh trong cùng một thời gian.

  1. Một tổ chức tư vấn được thực hiện một, một số hoặc tất cả các công việc.

–    Lập dự án đầu tư xây dựng công trình

–    Quản lý dự án

–    Khảo sát xây dựng.

–    Thiết kế xây dựng công trình

–    Giám sát thi công xây dựng công trình.

  1. Các dự án sử dụng nguồn vốn ngân sách – vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước, khi thực hiện dự án cấm:

–    Nhà thiết kế không được làm tư vấn giám sát.

–    Nhà tư vấn giám sát không được thực hiện kiểm định chất lượng công trình cho nhà thầu xây lắp.

3.8.1.     Hồ sơ đăng ký cấp chứng chỉ hành nghề giám sát thi công xây dựng công trình

  1. Đơn đăng ký cấp chứng chỉ hành nghề giám sát thi công công trình (Mẫu của Bộ Xây dựng); Phụ lục 2 – Quy chế 12/2005/QĐ-BXD; 3 ảnh mầu cỡ 3 X 4 chụp trong năm xin đảng ký.
  2. Giấy giới thiệu của cơ quan, tổ chức quản lý người xin cấp chúng chỉ.
  3. Bản sao công chứng các văn bằng chuyên môn, các chứng chỉ liên quan đến nội dung đăng ký cấp chứng chỉ hành nghề.
  4. Bản khai kinh nghiệm cồng tác, thống kê những công trình đã trực tiếp tham gia thiết kế, thi công xây dựng hoặc giám sát thi công, cố xác nhận của cơ quan quản lý trực tiếp hoặc của các Hội nghề nghiệp (Phụ lục 3 – Quy chế 12/2005/QĐ-BXD).

4.8.5. Hội đồng tư vấn cấp chứng chỉ hành nghề

  1. Giám đốc Sở Xây dựng thành lập Hội đồng tư van, thành phần từ 5-7 người, bao gồm:

–    Đại diện Sở Xây dựng.

–     Đại điện Hội nghề nghiệp có liên quan đến loại công trình và chuyên môn giám sát.

–     Đại diện các cá nhân giám sát thi công có uy tín do Hội nghề nghiệp giới thiệu.

Tùy loại công trình và chuyên môn Giám đốc Sở xây dựng có thể mời thêm đại diện các Sở có liên quan (Sở GTCC, Sở Nông nghiệp…)

Trong thời gian tối đa 30 ngày kể từ khi nộp đủ Hồ sơ hợp lệ sẽ nhận được chứng chỉ hành nghề.

Điều kiện của cá nhân hành nghề độc lập (Thiết kế – Khảo sát – Giám sát thi công)

Giám sát môi trường xây dựng nằm trong nhóm giám sát chuyên ngành “An toàn lao động và môi trường xây dựng” do các kỹ su về môi trường đảm nhiệm, nếu không có thì dùng kỹ sư xây dựng để giám sát.

Nguyên tắc giám sát cao nhất về môi trường xây dựng là phải quy định rõ các yêu cầu về vệ sinh môi trường xây dựng và được thể hiện bằng văn bản qua hợp đồng kinh tế.

Sau đó là việc tuyền truyền, cổ động thường xuyên trên công trường qua các pa nô, áp phích, các nội quy để giáo dục mọi người có ý thức đảm bảo vệ sinh cho công trường hàng ngày.

Vệ sinh công trường xây dựng và nói rộng ra là quản lý môi trường xây dựng là một việc làm cần thiết, nó không chỉ góp phần bảo vệ đòi sống vật chất mà còn có tác dụng giáo dục tinh thần cho mọi người lao động, xây dựng nên một tác phong lao động cồng nghiệp, tác giả đưa ra thuật ngữ mới “Vệ sinh xây dựng” thay cho thuật ngữ “Vệ sinh công nghiệp” để chỉ rõ bản chất của việc làm xây dựng nhưng có tác phong công nghiệp.

Đó là những yêu cầu mới vì chất lượng của cuộc sống. Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước rất cần phải xây dựng một nền văn hóa mới, trong đó có “Văn hóa xây dựng” và “Văn hóa môi trường” làm nền tảng cho mọi hoạt động về quản lý như quản lý chất lượng xây dựng, quản lý môi trường xây dựng. Với truyền thống vàn hiến của một dân tộc có 4000 năm lịch sử, hoàn toàn có thể tin tưởng rằng mọi vấn đề đều có thể giải quyết được trên cơ sở một nền văn hóa hiộn đại và đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam.

3.8.  ĐIỀU KIỆN NĂNG Lực CỦA Tổ CHỨC, CÁ NHÂN KHI GIÁM SÁT THI CÔNG XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH

3.8.1.  Điều kiện năng lực của tổ chức tư vấn giám sát thỉ công xây dựng công trình Năng lực của tổ chức giám sát công trình được phân thành hai hạng phụ thuộc vào:

–       Số kỹ sư tư vấn có chúng chỉ thành nghề giám sát.

–       Số công trình và cấp công trình đã giám sát.

A. SỐ kỹ sư tư ván đã có chứng chỉ B. Số công trình và cấp công trình đã giám sát
\.JIạng 1 A£20 B £ 1 công trình cấp đặt biệt hoặc cấp I B £ 2 công trình cấp II cùng loại
Hạng 2 Ạ £10 B £ 1 công trình cấp II hoặc B £ 2 công trình cấp in cùng loại

Phạm vi hoạt động

a)  Hạng 1: Được giám sát thi công công trình cấp đặt biệt, cấp I, n, III, IV cùng loại.

b)  Hạng 2: Được giám sát thi công công trình từ cấp II, III, IV cùng loại.

c)  Chưa có hạng: Được giám sát công trình cấp IV cùng loại.

3.8.2.  Điều kiện của cá nhân hành nghề độc lập (Thiết kế – Khảo sát – Giám sát thi công)

GIÁM SÁT MÔI TRƯỜNG XÂY DỰNG

–   ủng hộ, khuyến khích nâng cao nhận thức cho người lao động.

–   Thực thi việc thanh tra an toàn lao động thường xuyên dựa trên các công cụ pháp lý như tiêu chuẩn xảy dựng và các quy phạm kỹ thuật.

–   Mớ rộng việc tuyên truyền kiến thức quản lý cho mọi người.

–  Tranh thủ sự hợp tác và hỗ trợ về kỷ thuật an toàn lao động của các tổ chức trong nước và quốc tế.

Chiến lược toàn cầu về an toàn lao động và sức khỏe nghề nghiệp của ILO đă được Hội nghị lao động quốc tế phê chuẩn nảm 2003, trong đó nội dung của “Vân hóa đàm báo an toàn lao động và sức khỏe nghề nghiệp” được coi là trụ cột, là nền tảng trong việc tiếp cận một cách hẹ thống tới công tác quản lý an toàn lao động ờ các mức độ của doanh nghiệp, của quốc gia và quốc té.

Việc xây dưng và duy trì nền vân hóa này phải bao gồm: quyền Về môi trường lao động an toàn và lành mạnh. Như nguyên Tổng thư ký liên hợp quốc Kofi Annan da nói:

“Đảm bảo an toàn và sức khỏe tại nơi làm việc không chỉ là chính sách kinh tê’ đúng đắn, mà nó còn là quyền cơ bản của con người’’.

Đây chính là điểm cốt lõi của vãn hóa an toàn và sức khỏe và điều đó có nghĩa là các chính phủ, các doanh nghiệp và người lao động tích cực tham gia vào việc đảm bảo môi trường lao động an toàn và lành mạnh thông qua hệ thống về các quyền, trách nhiệm và nghĩa vụ đã được xác định, trong đó nguyên tắc phòng ngừa luôn được đặt lên hàng đầu.

Việc xây dựng và duy trì nền vãn hóa “An toàn lao động” không đơn thuần chỉ là sự cố gắng thay đổi thái độ hay hành vi của người lao động, mà việc xây dựng vàn hóa phải bắt đầu từ sự cam kết của cấp quản lý cao nhất của doanh nghiệp và phải bao gồm cả sự phân cấp các biện pháp phòng ngừa, phải được sự ủng hộ và đưa vào hệ thống luật pháp và thi hành của quốc gia. Tổ chức ILO luôn ủng hộ mạnh mẽ việc xây dựng nền vãn hóa này của các quốc gia.

Việc quản lý của doanh nghiệp đóng một vai trò quan trọng, tuy nhiên sự ủng hộ của quốc gia và các chương trình mục tiêu sẽ giữ vai trò chủ đạo trong việc xây dựng và duy trì thành công văn hóa đảm bảo an toàn và sức khỏe nghề nghiệp tại một công trường cũng như của toàn xã hội.

3.4.       GIÁM SÁT MÔI TRƯỜNG XÂY DỰNG

Môi trường sinh thái có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và đời sống của mọi người. Vì vậy bảo vệ môi trường xây dựng nói riêng và môi trường sinh thái nói chung là nhiệm vụ của mọi người, của cả cộng đổng. Nó không chỉ có ý nghĩa cho một công trường, một địa phương mà còn có ý nghĩa cho toàn quốc gia và cho cả toàn cầu.

GIÁM SÁT AN TOÀN LAO ĐỘNG TRÊN CÔNG TRƯỜNG XÂY DỰNG

Trường họp khối lượng phát sinh ngoài bản vẽ thiết kế chỉ xác nhận sau khi đã làm đủ các thủ tục quy định. Giám sát khối lượng thi công xây dựng là một nhiệm vụ rất quan trọng góp phần chống thất thoát trong xây dựng và góp phần quản lý giá thành dự án như đã được phê duyệt.

3.4.    GIÁM SÁT AN TOÀN LAO ĐỘNG TRÊN CÔNG TRƯỜNG XÂY DỰNg

Nhà thầu thi công xây dựng phải lập các biện pháp an toàn cho người và công trình trên công trường xây đựng. Trường hợp các biện pháp an toàn liên quan đến nhiều bên thì phải được các bên thỏa thuận. Ví dụ như trên công trường cùng một lúc có nhiều nhà thầu thi công xây dựng, thì nhà thầu nào phụ trách phần xây dựng, phần kết câu chính của công trình như phần móng, phần tầng hầm, phần thân và mái phải chịu trách nhiệm chính tổng thể cho toàn công trường, các nhà thầu khác hoặc nhà thầu phụ chịu trách nhiệm an toàn cho công việc mà mình phụ trách.

Các biện pháp an toàn, nội quy về an toàn phải được thể hiện công khai trên công trường xây dựng đẽ mọi người biết và chấp hành. Ở những vị trí nguy hiếm trên công trường phải bố trí người hướng dần, cảnh báo đề phòng tai nạn.

Nhà thầu thi công xây dựng, chủ đầu tư và các bên có liên quan phải thường xuyên kiểm tra giám sát cồng tác an toàn lao động trên công trường. Khi phát hiện có vi phạm về an toàn lao đồng thì phải đình chỉ ngay việc thi công xây dựng. Người để xảy ra vi phạm an toàn lao động thuộc phạm vi quản lý của mình phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.

Nhà thầu thi công xây dựng có trách nhiệm đào tạo, hướng dẫn, phổ biến các quy định về an toàn lao động. Đối với một số công việc có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động thì người lao động phải có giấy chứng nhận đã được đào tạo an toàn lao động do nhà thầu xây dựng cấp mới được làm việc.

Nghiêm cấm sử dụng người lao động chưa được đào tạo, chưa được học tập nội quy và chưa được hướng dẫn về an toàn lao động trên công trường xây dựng.

Nhà thầu thi công xây dựng có trách nhiệm cấp đầy đủ các trang thiết bị bảo hộ lao động nhu quần áo, găng tay, mũ, giày, kính và các trang bị an toàn lao động như: Dây đeo an toàn, mặt nạ phòng độc (ở các công trình ngầm, đường ống…) cho người lao động theo qìiý định khi sử dụng lao động trên công trường.

Khi có sự cố về an toàn lao động, nhà thầu xây dựng và các bên có liên quan (chủ đầu tư, tư vấn giám sát, đội xây dựng…) có trách nhiệm tổ chức xử lý và báo cáo cơ quan quản lý nhà nước về an toàn lao động theo quy định của pháp luật đồng thời chịu trách nhiệm khắc phục và bồi thường những thiệt hại do nhà thầu không đảm bảo an toàn gây ra.

GIÁM SÁT KHỐI LƯỢNG THI CÔNG XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH

Trường hợp đẩy nhanh tiến độ xây dựng đem lại hiệu quả cao hơn cho dự án thì nhà thầu xây dựng được xét thưởng theo hợp đồng. Trường hợp kéo dài tiến độ xây dựng gây thiệt hại thì bên vi phạm phải bổi thường thiệt hại và bị phạt vi phạm hợp đồng.

Ngoài ra Thông tư số 02/2005/TT-BXD hướng dẫn hợp đổng trong hoạt động xây dựng quy định rõ về:

  • Thời gian và tiến độ thực hiện:

Hợp đồng phải ghi rõ: Thời gian bắt đầu, thời gian hoàn thành bàn giao sản phẩm của hợp đồng, tiến độ thực hiện từng hạng mục, từng công việc phải phù hợp với tổng tiến độ của dự án.

Trường hợp bên giao thầu ký nhiều hợp đồng với bên nhận thầu để thực hiện các công việc xây dựng thì tiến độ của các hợp đổng phải phối hợp để thực hiện được tổng tiến độ của dự án.

Các bên của hợp đồng phải thiết lập phụ lục phần không tách rời của hợp đồng để ghi rõ yêu cầu về tiến độ đối với từng loại công việc phải thực hiện.

Về thưởng phạt hợp đồng Luật Xây dựng ghi rõ:

Điều 110: Thưởng hợp đồng, phạt vi phạm hợp đồng và giải quyết tranh chấp hợp đồng trong hoạt động xây dựng.

I Việc thưởng hợp đồng, phạt vi phạm hợp đồng phải được ghi trong hợp đồng.

  1. Đối với công trình xây dựng bằng nguồn vốn Nhà nước, mức thưởng không vượt quá 12% giá trị phần hợp đồng làm lợi, mức phạt không vượt quá 12% giá trị hợp đồng bị vi phạm.

Nguồn tiền thưởng trích từ phần lợi nhuận do sớm đưa công trình đảm bảo chất lượng vào sử dụng, khai thác hoặc từ việc tiết kiệm các khoản chi phí để thực hiện hợp đồng.

  1. Trong trường hợp xảy ra tranh chấp hợp đồng trong hoạt động xây dựng, các bên có trách nhiệm thương lượng giải quyết.

Trường hợp không đạt được thỏa thuận giữa các bên việc giải quyết tranh chấp được thực hiện thông qua hòa giải. Trọng tài hoặc Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Với các hợp đồng mà chủ đầu tư là nước ngoài, nhà thầu xây dựng là người Việt Nam, thỏa thuận về thưởng, phạt tiến độ thường được quy định là 1%0 giá trị hợp đồng cho 1 ngày vượt hoặc chậm tiến độ. Với các công trình lớn đây là một số tiền đáng kể, vì vậy các nhà thẩu xây dựng phải thận trọng khi ký kết hợp đồng xây dựng.

3.4.      GIÁM SÁT KHỐI LƯỢNG THI CÔNG XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH

Khối lượng thi công xây dựng công trình là một vấn đề nhạy cảm và hết sức phức tạp. Ngoài các khối lượng công việc đã được tính toán chính xác theo thiết kế, còn có các khối lượng phát sinh ngoài thiết kế chỉ khi thi công mới phát sinh ra.

Trẽn thực tế các khối lượng phát sinh là có thật, nhiều khi do các yếu tô ngẫu nhiên gây ra và nhiều khi do các yếu tố chủ quan gây ra.

Lập kế hoạch sản xuất cho bất kỳ dự án xây dựng nào

Phải đến những năm cuối thế kỷ XX, khi máy tính cá nhân trở nên thông dụng, khi các thuật toán để tính sơ đồ mạng có sự trợ giúp của máy tính điện tử được tính một cách dễ dàng, thì sơ đồ mạng lại được sử dụng như một công cụ đắc lực để lập tiến độ xây dựng. Đặc biột khi hãng Microsoft đưa ra phần mềm ứng dụng có tên gọi Microsoft Project (MP) thì việc sử dụng sơ đồ mạng trong xây dựng mới thực sự mạnh mẽ và có hiệu quả.

Kể từ chương trình MP đầu tiên được đưa vào Việt Nam năm 1995, là chương trình Microsoft Project 4 For Window, đến nay đã có nhiều chương trình mới được cải tiến như Microsoft Project 98 và gần đây nhất là Microsoft Project 2003.

Sắp tới hãng Microsoft có thể sẽ đưa ra những chương trình mới hơn nữa, với nhiều tính năng ưu việt hơn.

Tuy nhiên, chỉ với Microsoft Project 2003 là đã quá đủ để chúng ta lập và quản lý tiến độ cho bất kỳ một công trình xây dựng nào ở Việt Nam. Cho đến nay Microsoft Project vẫn là phần mềm chuyên dùng để lập và quản lý dự án.

Ưu điểm cơ bản nhất của MP là nó có cả hai khả năng để phục vụ cho quá trình xây dựng đó là: khả năng lập tiến độ và điều khiển tiến độ.

Khả năng lập tiến độ:

+ Lập kế hoạch sản xuất cho bất kỳ dự án xây dựng nào, từ nhỏ đến lớn, từ đơn giản đến phức tạp.

+ Thích ứng với bất kỳ công trình xây dựng nào: dân dụng hoặc công nghiệp.

+ Có thể cùng một lúc lập kế hoạch cho 80 dự án của cùng một Ban giám đốc, và trong cơ sở dữ liệu này có thể phân tích từng dự án riêng lẻ, cũng như hợp nhất các dự án để cùng phân phối và điều hòa tài nguyên từ nguồn lực của công ty.

+ Lên lịch công tác từng ngày, tuần, tháng, kể cả ngày nghỉ theo niên lịch (Calendar).

+ Chỉ định tài nguyên (nhân lực, vật tư…) và chi phí cho các công việc.

Khá nàng điều khiển tiến độ:

Đây là khả năng ưu việt nhất của chương trình MP, trong quá trình thi công ở hiện trường, các công việc sẽ diễn biến không hoàn toàn như kế hoạch. Vì vậy cứ sau một chu kỳ thời gian làm việc, nhóm tiến độ trên công trường phải cập nhật số liệu để lập tiến độ cho chu kỳ mới. Khi này MP là một công cụ cực kỳ đắc lực. Trong vòng một ngày nhóm tiến độ với sự trợ giúp của các Computer có thể lập tiến độ, tính toán các nhu cầu tài nguyên, để việc thi công trên công trường là liên tục, điều này trước kia khi tính bằng tay rất khó có thể thực hiện.

Một số biện pháp khống chế tiến độ

4- Tư vấn giám sát:

Tư vấn giám sát sẽ tùy thuộc quy mô công trường mà cử một kỹ sư hoặc nhóm kỹ sư chuyên giám sát về tiến độ.

Tư vấn giám sát sẽ phải làm việc theo một cơ chế mới, đó là phải chủ động tham gia tích cực vào qúa trình kiểm soát, khống chế tiến độ với nhiều mức độ như kiểm tra, góp ý với nhà thầu, nếu cần phải can thiệp manh bằng cách đề xuất các biện pháp xử lý khi bị chậm tiến độ, hoặc cùng với nhóm tiến độ của nhà thâu lập ra kế hoạch cho từng chu kỳ làm việc, với phương châm phòng ngừa tích cực, để khống chế tiến độ hoàn thành đúng kế hoạch.

a) Một số biện pháp khống chế tiến độ

Khi tiến độ bị chậm, phải tìm ra các nguyên nhân làm chậm tiến độ, từ đó mới có biện pháp xử lý nhằm rút ngắn thời gian làm việc của chu kỳ tiếp theo, để bù vào sự chậm thời gian của chu kỳ trước, chỉ có như vậy thời gian hoàn thành công trình mới có thể đúng kế hoạch đã định.

Về mặt lý thuyết cũng như những kinh nghiệm từ thực tế cho ta nhiều biện pháp như sau:

Các biện pháp kỹ thuật.

+ Thay đổi công nghệ thi công, ví dụ từ đổ bê tông bằng cần trục tháp chuyển sang đổ bê tông bằng máy bơm, sẽ rút ngắn đáng kể thời gian đổ bê tông.

+ Thay đổi hệ dàn giáo, cột chống, ván khuôn bằng gỗ, sang hệ dàn giáo, ván khuôn, cột chống thép được chế tạo ở nhà máy, thời gian dựng lắp và tháo dỡ sẽ rất nhanh.

+ Những kết cấu có thể dùng công nghệ cốp pha trượt thay cho công nghệ đổ bê tông truyền thống, thì mạnh dạn áp dụng, sẽ có thời gian thi công rất nhanh.

+ Thay đổi mối nối ướt sang mối nối khô trong những công trình lấp ghép.

+ Thêm phụ gia đông cứng nhanh vào vữa bê tông để rút ngắn thời gian gián đoạn chờ tháo ván khuôn.

–    Các biện pháp về tổ chức:

+ Phân chia lại mặt bằng công tác theo hướng làm tăng số phân đoạn lên, để tăng nhịp độ thi công theo phương pháp dây chuyền.

+ Tăng thêm số lượng cần trục, máy móc, thiết bị xây dựng, tức là làm tăng mức độ cơ giới hóa trong lao động để giảm thời gian hoàn thành công việc.

+ Tăng thêm nhân lực bằng cách tổ chức thêm các đội chuyên nghiệp.

+ Tổ chức thêm ca làm việc.

–    Các biện pháp khác:

+ Phát động một đợt thi đua để tăng năng suất lao động.

+ Động viên bằng liền thưởng cho những công việc chính cần phải hoàn thành.

+ Kể thêm các hợp đồng với các nhà thầu phụ (B’) để chia sẻ bót sự căng thẳng về khối lượng công việc, chu trình quản lý tiến độ thi công xây dựng được thể hiện trên hình 4.8.

Quản lý tiến độ xây dựng

Trên cơ sở đồ mạng được lập, sẽ tính toán các thông số thời gian, tìm ra đường găng và giải một loạt các bài toán về thời gian, tối ưu hóa thời gian và giá thành, đánh giá độ tin cậy của kế hoạch bằng phương pháp PERT.

Sự mém dẻo của tiến độ:

Quá trình thi công xây dựng là một quá trình động nhưng tiến độ được lập ban đầu là dạng “tĩnh”, trên cơ sở giả thiết mọi sự việc diễn ra trong tiến độ đúng như  sự mong muốn và tính toán của người lập.

Dù sao vẫn cần một tiến độ “tĩnh” ban đầu để làm cơ sở cho nhiều tính toán tiếp theo như vẽ các biểu đồ tài nguyên (nhân lực, cung cấp vật liệu…). Tuy nhiên, khi đi vào thực tế việc điều khiển tiến độ đòi hỏi rất nhiều sự chỉ đạo, nhiều quyết định của người chỉ huy, và nhìn chung thì rất ít có tiến độ nào được thực thi đúng 100% so với dự định.

+ Các công việc tròn có dự trữ đó có thể thay đổi thời gian hoàn thành công việc hoặc thay đổi thời điểm bắt đầu hoặc kết thúc công việc. Việc này chỉ có thể làm được bằng phương pháp sơ đổ mạng.

+ Tiến độ chỉ thể hiện các công việc chính còn công việc phụ có thể chèn vào khi cố những gián đoạn các công việc chính. Điểu này làm tâng sự điều chỉnh công việc trôn hiện trường, nhằm hoàn thành kế hoạch đã định.

+ Tiến độ cần được thê hiện bàng các sơ đồ Gantt Chart hoặc sơ đồ CPM hoặc PERT Chart dể sau một thời gian 3, 5, 7, 10 ngày, có thể điểu chỉnh để tính lại tiến độ cho phù hợp với thực tế. Nếu thể hiện trên sơ đồ xiên (Cyklogram) thì nói chung là không điểu chinh dược.

+ Mạnh dạn dùng các phần mềm như chương trình Microsoft Project để lập và quản lý tiến độ.

4.4.2.    Trình tự lập tiến độ

Trình tự lập tiến độ không phải là một quy trình bắt buộc, cứng nhắc, nó phụ thuộc rất nhiều vào kinh nghiệm của người lập, vì vậy mỗi người có thể tự cho mình một trình tự để lập tiến độ, hoặc có sự phối hợp của một nhóm các chuyên gia, mà mỗi thành viên chịu trách nhiệm giải quyết một bước nào đó trong quá trình lập tiến độ sao cho mềm dẻo và linh hoạt, có thể tham khảo một trình tự sau đây (hình 4.7).

4.4.3.    Quản lý tiến độ xây dựng

Tiến độ kế hoạch sau khi đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, hoặc được chủ đầu tư ký hợp đồng, sẽ được đem ra thực hiện để xây dựng công trình.

Tuy nhiên, thời gian thực hiện ờ công trường sẽ dao động xung quanh thời gian dự kiến, nghĩa là có thể chậm, có thê bằng, hoặc nhanh hơn thời gian kế hoạch. Điều đó buộc người quản lý điểu hành luôn phải điều chỉnh lại tiến độ, sao cho thòi hạn thi công đúng như thời gian kế hoạch đã được phe duyệt, hoặc tốt hơn là rút ngắn được thời gian thi công so với kế hoạch. Đó là mục tiêu quản lý tiến độ xây dựng.

Quá trình xây dựng phần ngầm

Quá trình xây dựng phần ngầm lại có thể chia ra thành các công việc:

  1. Ép cọc;
  2. Đào đất móng;
  3. Thi công các công trình ngầm (bể phốt, bể nước, đường thoát nước);
  4. Bê tông móng;
  5. Thi công mạng lưới kỹ thuật: cấp điện, cấp nước.
  6. Lấp đất.

– Có thể phân chia công trình xây dựng thành các công việc dựa vào “chủng loại nhân công theo nghề nghiệp sử dụng” như lao động thủ công, nghề bê tông, nghề mộc.

– Có thể phân chia các quá trình xây dựng theo các “Công cụ được sử dụng”.

Ví dụ: Quá trình ép cọc phải dùng máy ép.

Quá trình đổ bêtông phải dùng cần trục tháp.

Quá trình xây trát dùng bay, bàn xoa.

Mức độ phân chia nhỏ quá trình xây dựng thành các công việc phức tạp hay đơn giản phụ thuộc vào giải pháp công nghệ và giải pháp tổ chức.

Nếu tổ chức một đội thợ hỗn hợp gổm thợ sắt, thợ mộc, thợ né có thể làm được tất cả các việc về bê tông. Khi này chỉ cần chia thành các công việc phức tạp. Ví dụ: “Công tác bê tông sàn tầng 2”.

Nếu tổ chức các đội thợ chuyên môn hóa cao, mỗi người chỉ làm một việc thì công việc chia thành các công việc đơn giản như:

  1. Lắp dựng cốp pha sàn tầng 2;
  2. Đặt cốt thép sàn tầng 2;
  3. Đổ bê tông sàn tầng 2.

Mức độ phân chia công việc phải tạo cho người lao động thấy được thành quả lao động của mình sau một thời gian lao động xác định (phải tính được tiền công để khoán sản phẩm cho từng tổ sản xuất). Mức độ phân chia phải tạo được năng suất lao động cao nhất, trên cơ sở tận dụng hết sức lao động, đảm bảo ATLĐ và thuận lợi cho việc kiểm tra, giám sát chất lượng, ghi rõ trách nhiệm cho từng cá nhân, từng tổ lao động.

Sau khi phân chia hạng mục thành các quá trình hoặc công việc, cần thiết phải phối hợp các công việc để tạo nên sản phẩm xây dựng.

Các nguyên tắc phối hợp:

+ Tạo nên một nhịp điệu sản xuất cao nhất, nhằm đưa ra sản phẩm xây dựng một cách sớm nhất.

+ Huy động hết khả năng lao động, làm cho người lao động trong quá trình sản xuất phát huy được mọi sáng tạo trong nghề nghiệp của mình, thoải mái lao động, đạt năng suất cao nhất.

+ Tận dụng hết mọi điều kiện lao động, các mặt bằng có thể cho phép làm việc được phải tổ chức có người làm việc, tức là phải bão hòa mặt bằng thi công.

+ Tạo sự điều hòa về khối lượng, vật tư, phương tiện, sao cho việc quản lý tiến độ thuận lợi nhất. Không gây ra những căng thẳng không cần thiết trong các khâu cung cấp vật tư, nhân lực, phương tiện.

+ Tạo điều kiện để cho ra sản phẩm xây dựng điều hòa nhất làm cơ sở để thanh toán, quyết toán, làm cho tiền vốn được luân chuyển nhịp nhàng nhất.