Phá dỡ các công trình cũ bằng công nghệ “nô mềm”

Các chuyên gia của hãng “Armstroi“ phôi hợp với một loạt các xí nghiệp thuộc Tổ hợp quốc phòng (Nga) đã nghiên cứu và áp dụng thành công công nghê nô mêm phá dỡ các công trình xây dựng cũ.
Bản chất của công nghệ ‘nổ mềm” là phá các kết cấu chịu lực và các liên kết bằng ngòi nổ định hưởng đặc biệt. Dự án này đã được Cục giám định kỹ thuật Nhà nước và các cơ quan chức năng khác phê duyệt. Sau khi phá xong các công trình cũ, những tảng bêtông được đập nhỏ trong tổ hợp nghiền-sàng. Từ đây có thể phân loại ra các mảnh cốt thép cũ, đã dám và các cỡ hạt nhỏ khác của bê tông để sử dụng lại. Năng suất của tổ hợp này phụ thuộc vào kích thước ban đầu của các mảnh bê tông và lượng cốt thép, vào khoảng 100 – 350 tấn/ giờ. Nếu làm việc ổn định mỗi ngày 2 ca thì tổ hợp này có thể tái chế được 50 ngôi nhà panen bêtông 5 tầng cũ trong 1 năm thành nguyên liệu cho bêtong.
Công ty gốm xây dựng Bỉm Sơn bước đầu có lãi
Trong những năm trước đây, sản phẩm của Công ty gốm xây dựng Bỉm Sơn (Tổng công ty Thủy tinh và Gốm xây dựng) làm ra phải cạnh tranh gay gắt về kết quả kinh doanh thua lô kéo dài. Bước sang năm 1998, Công ty đã xác định tiêu thụ là sự sống còn nên các đại lý được mở thêm ở Thanh hóa và Ninh Bình. Công ty có quy chế về tiêu thụ sản phẩm, tiền lương được tính theo lũy tiến của doanh thu bán hàng. Mặt khác nhà máy đã khoản chi phí đến từng phân xưởng vì thế mà vật tư, nguyên nhiên vật liệu được tiết kiệm và giá thành sản phẩm đã giảm. Sáu tháng đầu năm nay, Công ty sản xuất 15.473.751 viên gạch các loại, tiêu thụ 11.379.784 viên, lãi 49 triệu đồng. Công ty phấn đấu cuối năm sản xuất và tiêu thụ 30 triệu viên gạch các loại, vượt công suất thiết kế 10 triệu viên/ năm và mức thu nhập bình quân đạt 533.000 đồng/ người/ tháng.
T.B – Xây Dựng/ Bộ xây dựng – Hà nội – số 20 -1998

Màu xanh nơi quê Bác

Nói đến mảnh đất miền Trung, người ta thường nghĩ đến gió Lào và nắng nóng cháy da. Chí ít người ta cũng nghĩ, đó là vùng đất cằn cỗi, canh tác rất khó khăn mới có được hạt lúa củ khoai! ít ai có thể hình dung nổi màu xanh của cây cối trên các đô thị và làng quê nơi xứ Nghệ. Tôi về quê Bác cũng mang theo tâm trạng và những suy nghĩ rằng, đây là một vùng quê đất cằn cỗi, nắng nóng và gió Lào khắc nghiệt, khó có thể chịu nổi.
Nhưng về quê Bác giữa nắng hè oi bức, nhiệt độ tới 39 – 40 độ, tôi được tận mắt trông thấy những tuyến đường quy hoạch rộng rãi của thành phố Vinh, à giữa có dải cây xanh phân cách, hai bên vỉa hè rộng rãi có cây “tốt xum xuê. Từ Vinh về Nam Đàn, cây mọc tốt tươi trên các nẻo đường liên huyện, liên xã, liên thôn, những cánh đồng lúa bên chân đang lên xanh tốt… Trong đầu tôi luôn trăn trở một câu hỏi: Tại sao?
Tại sao trên quê Bác, một vùng đất nổi tiếng về sự khắc nghiệt của khí hậu, lại có được màu xanh tươi trên các nẻo đường cả đô thị và nông thôn? Điều đầu tiên tôi suy nghĩ tới là vấn đề quy hoạch là thực hiện đúng theo quy hoạch. Người ta đã tốn khá nhiều giấy mực để vẽ ra quy hoạch cho các đô thị và nông thôn nhưng kết quả hiện nay nhiều thành phố và nông thôn chưa có quy hoạch tổng thể, hoặc có nhưng mới là trên giấy, còn hoạt động xây dựng có theo đúng quy hoạch hay không, thì lại là vấn đề khác.
Người dân xứ Nghệ siêng năng, chất phác và rất có trí. Những tuyến đường rộng rãi, sạch đẹp, những dải cây xanh tươi tốt có được trên quê hương Bác, phải chăng đó là kết quả quyết tâm thực hiện tốt quy hoạch và làm đúng theo quy hoạch của Nghệ An.
Về quê Bác ta rất ít thấy những lò gạch tỏa khói mù mịt hủy hoại môi sinh. Về Nam Đàn, ta gặp những đồi thông, bạch đàn… đang lên xanh tốt, mà nổi bật lên là Động Tranh, nơi an táng Thân Mẫu của Chủ tịch Hồ Chí Minh, về xứ Nghệ, ta thấy một thị xã Cửa Lò, có đường rộng, dưới bóng cây phi lao, xà cừ… xum xuê bóng mát, có bãi tắm nước trong sạch sẽ. Cửa Lò là hình ảnh của Sâm Sơn mười năm về trước. Sau mười năm nữa, Cửa Lò liệu có còn được như ngày hôm nay, hay con người lại đem những lều quán đặt san sát lên bãi biển, đến nỗi cây không có chỗ để mọc, người không có lối để dạo mát, khắp nơi một không khí ngột ngạt, đầy bụi bặm? Điều đó hoàn toàn phụ thuộc vào các nhà quy hoạch và người dân Nghệ An. Còn hôm nay, đi giữa vùng đồi bát ngát xanh trên những con đường xum xuê bóng lá trong tai tôi lại văng vẳng câu ca xưa:
Đường vô xứ Nghệ quanh quanh
Non xanh nước biếc như tranh họa đồ.
Tôi càng thấy ý nghĩa sâu sắc lời dạy của người:
Vì lợi ích mười năm phải trồng cây
Vì lợi ích trăm năm phải trồng người.
KS. Đình Bá Lô – Xây Dựng/ Bộ xây dựng – Hà nội – số 20 -1998

Mỏ khai thác đá Trà Đa chưa bảo đảm an toàn cho dân

Mỏ đá Trà Đa có diện tích rộng 14,5 ha với khối lượng lớn và tầng khai thác ở độ sâu 5 mét nằm trên địa bàn vùng ven xã Trà Đa thuộc thị xã Pleiku (Gia Lai). Mỏ đá này được giao cho 3 đơn vị là Công ty xây dựng công trình giao thông Gia Lai, Công ty vật tư xây dựng Gia Lai và Công ty Lam Sơn (Quân đoàn 3) trực tiếp quản lý, khai thác phục vụ cho yêu cầu xây dựng các công trình trong tỉnh. Trong những năm qua các đơn vị này chỉ chú ý đến việc khai thác chứ chưa quan tâm việc bảo vệ an toàn cho người dân nên để xảy ra những tai nạn đáng tiếc. Mùa hè năm ngoái 3 em học sinh thả bò trong khu vực sản xuất đã bị trượt chân ngã xuống hầm đá chết. Môi trường cũng bị ô nhiễm, hàng ngày có không biết bao nhiêu xe chở đá ra vào nơi sản xuất phải ngang qua trường học và khu dân cư làm hư hỏng đường giao thông. Vào mùa mưa thì sình lầy khó đi, còn vào mùa khô thì bụi đất đỏ mù mịt.
Tình trạng này dân sở tại đã kêu ra nhiều và báo chí đã lên tiếng. Các đơn vị khai thác phần nào có chú ý hơn trong việc bảo vệ an toàn tai nan và môi trường. Mới đây các công ty đã đầu tư hơn 30 triệu đồng sửa chữa trải một lớp nhựa mỏng và nâng cấp lại khoảng 300 mét đường vào nơi khai thác khắc phục sình lầy và bụi bặm. Tuy nhiên ở trong khu vực khai thác đá vẫn chưa có chuyển biến. Có chăn là những dòng chữ được viết trên các phên liếp của văn phòng làm việc ở các Đội sản xuất đại thể với những câu: Khu vực sản xuất cấm vào, Công trường khai thác đá, nhưng những nơi quan trọng hơn, nguy hiểm hơn như hầm hố ở ngoài hiện trường chẳng thấy cắm lấy một bảng cấm làm nào và người dân sở tại cũng chẳng được nghe một lần thông báo. Liệu có ai dám chắc người dân ở đây sẽ không còn bị tai nạn như trước đây?
Văn Thông – Xây Dựng/ Bộ xây dựng – Hà nội – số 20 -1998

Đại hội của hơn một triệu kiến trúc sư trên thế giới

Mới đây, trong một cuộc họp báo tại Bắc Kinh, Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trung Quốc Du Chính Thanh đã chính thức thông báo: Đại hội lần thứ 20 Hiệp hội kiến trúc sư quốc tế (UIA) sẽ được tổ chức tại Bắc Kinh, từ 23 đến 26 – 6 – 1999.
UIA, tổ chức quốc tế duy nhất của các kiến trúc sư toàn thế giới được thành lập n&m 1948 và vừa qua tại thành phố Lansanne, Thụy Sĩ, UIA đã long trọng tổ chức kỷ niệm lần thứ 50 ngày ra đời của mình. UIA hiện có 100 nước thành viên với trên 1 triệu hội viên. Từ ngày thành lập đến nay, UIA đã qua 19 lần đại hội (3 năm đại hội 1 lần) với những chủ đề khác nhau tùy theo sự phát triển xã hội của từng thời kỳ. Đại hội UIA lần thứ 20 tới được tổ chức vào giao thời giữa 2 thế kỷ vì thế chủ đề của Đại hội được xác định là: Kiến trúc trong thế kỷ thứ 21.
Đây là lần đầu tiên trong lịch sử của mình, UIA tổ chức Đại hội tại một nước thuộc khu vực 4 (khu vực 1C châu Á – Úc. Đại hội sẽ diễn ra ở trung tâm Hội thi quốc tế Bắc Kinh với dự kiến 7.000 kiến trúc sư quan chức khác của hơn 100 nước tham dự. Trung quốc rất coi trọng Hội nghị quốc tế này nên đã thành ủy ban tổ chức hội nghị gồm đại diện của 16 Bộ, ủy ban do ủy viên thường vụ Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch Chính hiệp hội nước CHND Trung Hoa Lý Thụy Hoàn làm chủ tịch danh dự; Bộ Trưởng Bộ Xây dựng Trung Quốc Du Chính Thanh làm Chủ tịch.
Sáu vấn đề lớn sẽ được thảo luận tại Đại hội lần thứ 20 là: Kiến trúc và môi trường, kiến trúc và đô hị, kiến trúc và văn hóa, kiến trúc và kỹ thuật, kiến trúc và tinh thần chức nghiệp, giáo dục kiến trúc và kiến trúc sư trẻ.
5 cuộc triển lãm cũng sẽ được tổ chức trong thời gian đại hội là: Kiến trúc của thế kỷ 21; Nhìn lại kiến trúc châu Á; Kiến trúc các nước thành viên UIA; các đồ án của sinh viên được giải thưởng của UIA/ UNESCO; kỹ thuật mới, vật liệu mới, thiết bị và sản phẩm mới trong xây dựng.
Một cuộc thi thiết kế quốc tế dành cho sinh viên kiến trúc nhận giải thưởng của UIA và UNESCO có tên là “Nhà ở đô thị cho thế kỷ thứ 21” với thời gian cuối cùng đăng ký là 15 – 9 – 1998, thời hạn cuối cùng nộp đồ án 31 – 1 – 1999 công bố kết quả vào tháng 3 – 1999 và phát thưởng vào tháng 6 – 1999.
Một bộ sách quý “Tinh phẩm kiến trúc thế kỷ 21” gồm 10 tập với hơn 1.000 hạng mục sẽ được giới thiệu tại Đại hội.
Trần Đình Hạ – Cao Trường Sơn – Xây Dựng/ Bộ xây dựng – Hà nội – số 19 -1998

Ngôi nhà bí ẩn – Kỳ 13

Thấy mọi người đổ dồn mắt về phía mình chờ đợi, thiếu tá Ngọc Bảo giở hồ sơ:
Thưa các đồng chí, trong chuyến bay chiều hôm kia từ Đài Bắc đến sân bay quốc tế Nội Bài của hãng hàng không Hoa Trung, có hai nhân vật đặc biệt. Đó là Hà Bào Lâm tức “Bố già” với hộ chiếu là Hà Trọng Khoằn, quốc tịch Đài Loan. Còn người thứ hai là Phạm Phú với hộ chiếu giả mang tên Mã Tiểu Nhị, cũng mang quốc tịch Đài Loan. Đêm qua, theo yêu cầu của ta, Interpol Hông Kông đã cung cấp khá đầy đủ về hồ sơ và ảnh của bọn chúng. Hoàn toàn chính xác…
Hiện tại hai tên này đang ở đâu? – Đại tá Lê Hoàng sốt ruột ngắt lời Ngọc Bảo.
Thưa thủ tướng, theo thông báo của Interpol Hồng Kông, cũng như nhận định của tôi và đồng chí Trần Quang, có nhiều khả năng bọn chúng đã ở khu vực biên giới Việt – Trung – Ngọc Bảo hồi hộp – và đang chuẩn bị ráo riết cho “kế hoạch ly hương 1″ – Lừa hàng vạn chị em ở các nước Đông Nam Á làm “hàng hóa cao cấp để chúng xuất khẩu” tới nhiều nước trên thế giới, trong thời gian tới ạ.
Vậy là một mắt xích quan trọng của chúng đã bị các cậu đột phá, ở đâu vậy? – Đại tá Hoàng vẻ phấn chấn hỏi Ngọc Bảo và Trần Quang
Thưa thủ trưởng, nhờ tính toán trước, “con rệp” thu phát trực tiếp mà chúng ta đã gài vào áo của “Cường xoăn” đã có tác dụng rất tốt. Đêm qua, sau khi xong việc ở Hưng Yên về, chúng tôi đã nghe lại được toàn bộ cuộc trao đổi giữa Phạm Phú và “Cường xoăn”, tại một địa điểm bí mật nào đó của chúng ở Hà Nội, mà máy ghi âm tự động của ta ghi lại. Thì ra đúng như nhận định của Trần Quang, “Cường xoăn” là một đệ tử cuồng tín của Phạm Phú. Phạm Phú là một “anh hùng hảo hán” , nguy hiểm hơn chúng ta tưởng nhiều. Theo lệnh của “Bố giả Hồng Kông và Phạm Phú”, tuần tới “Cường xoăn” sẽ bay đi thành phố Hồ Chí Minh để gặp u Trạch Nhan là Hoa Kiều ở Chợ Lớn, để móc nối, tạo đường dây xuất khẩu phụ nữ là khu vực Sài Gòn, Đông và Tây Nam bộ. Ngoài ra chúng cũng đã có kế hoạch đặt những nhà máy ở một nước láng giềng sản xuất những mặt hàng công nghiệp giả, mang nhãn hiệu Việt Nam để phá hoại nền kinh tế của chúng ta.
Hừ, bọn này gớm thật. Rồi sao nữa? Các cậu không bỏ qua các chi tiết chứ? – Đại tá Hoàng lặng lẽ hỏi.
Rồi sau đó, “Cường xoăn” sẽ cùng u Trạch Nhan qua Đà Nẵng, Huế, Thanh Hóa, Hải Phòng gặp bọn đàn em để mở rộng phạm vi hoạt động, đẩy “kế hoạch ly hương 1” của chúng đến thành công mỹ mãn. Rồi sau đó, chúng sẽ thực hiện tiếp các kế hoạch ly hương 2, ly hương 3, ly hương 4 và nhiều nữa ạ.
Đại tá Lê Hoàng gật gù:
– Nhận định của chúng ta và Interpol khu vực hoàn toàn chính vậy là “Chuyên án H7.96″ của chúng ta lại tiếp chúng ta cũng không kế hoạch của bọn Bố già” Hồng Kông, lại khủng khiếp đến như vậy.
Thưa thủ trưởng, vậy với bọn “Cường xoăn”, u Trạch Nhan, Phạm Phú và cả Bố già Hà Bảo Lâm, nếu có điều kiện chúng ta có thể bắt sống ngay không ạ?
Không được, kẻo rút dây động rừng. Ta phải nuôi án để cho nó tạm thời phát triển. Phải nghiên cứu, phải thận trọng, để xem đằng sau các “kế hoạch ly hương 1, 2, 3, 4…” của bọn mafia, Tam Hoàng đã liên kết với nhau ấy, là gì? – Đại tá Lê Hoàng thận trọng.
Chúng chỉ đơn thuần buôn bán thân xác phụ nữ, rửa tiền để kiếm tiền? Hay đằng sau đó là các kế hoạch tuyển mộ nhân viên, phục vụ cho các kế hoạch gây bạo loạn và lật đổ của bọn phản động quốc tế, các giáo phái, đạo giáo cuồng tín định gây ra trong khu vực.
Vậy theo ý thủ trưởng? Ngọc Bảo nhíu mày lên tiếng.
Phải theo sát mọi biến động của “Phạm Phú, u Trạch Nhan, Cường xoăn”. Phối hợp chặt chẽ với Interpol khu vực để giám sát Bố già và các công ty mà của hắn đang vươn dài các vòi bạch tuộc ra cả châu Á… Phải chặn đứng tội ác.
Sự mất tích đột ngột của Bố già Hong Kong, làm cho vốn phòng Interpol khu vực lại một phen điên đảo. Từ ông Tổng thư ký – Thiếu tướng Kiểu Đại Nhan đến các đại tá Du Cheng Ha, Mã Đại Văn, Xmít cứ nhấp nhổm suốt ngày như ngồi trên ổ kiến lửa.
Dạ thưa đại nhân tiên sinh – Đại tá Mã Đại Vân nhìn vị thiếu tướng ngập ngừng – Interpol Việt Nam đã nhờ ta cung cấp hồ sơ về bọn “Bố giá”? Chắc họ đã biết sự di chuyển của chúng? Hay ta cứ phôn dò hỏi xem?
Chẳng lẽ Interpol khu vực bó tay hay sao mà phải hỏi họ? Dù rằng Interpol Việt Nam là một chuẩn mực về chống tội phạm và ma túy ở khu vực. Nhưng huynh thấy… Thôi được, tùy đệ.
Chợt bộ đàm của thiếu tướng phát tín hiệu. Ông nhắc máy:
Hảo lơ… Tôi thiếu tướng Kiều Đại Nhân đây… Sao, ông là sếp của Hội Tam Hoàng à? Cái gì? “Ông cấm chúng tôi động vào bố già” Ông ta là đồng minh của ông? Nếu không văn phòng của tôi bị nổ tung? Hừ, mẹ kiếp…
Hồ Thế Kỳ – Cao Trường Sơn – Xây Dựng/ Bộ xây dựng – Hà nội – số 19 -1998

Công cuộc đổi mới làm thay đổi kiến trúc đô thị

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa – cơ sở nền tảng của đô thị hóa
Nền kinh tế mở, nhiều thành phần, chuyển đổi cấu trúc đô thị
Trong cuộc đổi mới của nước ta hơn mười năm qua tác động sâu sắc đến phát triển đô thị và làm cấu trúc của hệ thống đô thị thay đổi cả về chất và lượng: từ cấu trúc đô thị hành chính, còn mang nhiều dáng dấp nửa đô thị, nửa nông thôn, sang cấu trúc đô thị có nền kinh tế phát triển tách biệt rõ ràng với nông thôn. Từ cấu trúc của đô thị “đóng” khép kín, hướng tìm một mô hình cấu trúc “định hình tối ưu”, sang cấu trúc một đô thị mở rộng ra những mối quan hệ liên vùng, liên quốc gia hướng về các cảng biển, các cửa khẩu biên giới, các sân bay quốc tế và các tuyến lực quan trọng của quốc gia. Từ cấu trúc của đô thị chỉ có một chủ đầu tư duy nhất (là nhà nước) dưới thời bao cấp sang cấu trúc đô thị có nhiều chủ đầu tư trong nền kinh tế nhiều thành phần, có chủ quyền sử dụng đất đai riêng.
Các chính sách đổi mới thực sự đã trở thành những xung lực to làm thúc đẩy tốc độ đô thị hóa gia tăng chưa từng thấy vừa theo chiều sâu, vừa theo chiều rộng, là đóng góp tích cực trong việc hình thành phát triển kinh tế, vốn hóa, khoa học kỹ thuật. Đô thị hóa thoạt đầu gia tăng ở các đô thị lớn, dần dần lan tỏa đến toàn bộ hệ thống các đô thị ở các vùng, địa phương. Công nghiệp hóa và hiện đại hóa đang trở thành cơ sở nền tảng của phát triển đô thị hóa, tăng trưởng kinh tế quốc gia, cải thiện mức sống cho nhân dân, cấu trúc đô thị được coi như một hệ sinh thái liên tục “cân bằng động” và phát triển tổng hòa giữa các ngành. Đô thị hóa là một quy luật khách quan. Nhận thức đúng, hoạch định chính sách và tổ chức thực hiện đúng sẽ ngăn chặn những phát sinh lộn xộn, tiêu cực và kéo dài thời gian của tiến trình đô thị hóa.
Xúc tiến huy động tổng hợp các lực lượng đóng góp xây dựng phát triển đô thị, nghiên cứu kịp thời các đồ án quy hoạch có nội dung ý tưởng đổi mới, thích ứng với những yêu cầu mới phát sinh nhằm sớm đưa các đồ án quy hoạch, các dự án đầu tư vào cuộc sống, đã trở thành một công việc hết sức bức bách. Hội quy hoạch và phát triển đô thị Việt Nam ra đi lúc này và một việc làm thiết thực.
GS. Đàm Trung Phường – Xây Dựng/ Bộ xây dựng – Hà nội – số 18 -1998

Mối liên quan giữa cửa chính với cửa hậu

Ngoài cửa chính, trong một ngôi nhà thông thường còn có một hệ thống cửa đi khác như cửa ngách (cửa mở phía hông nhà), cửa hậu (cửa sau – ngược chiều với cửa chính) và cửa vào các phòng (phòng ngủ, nhà bếp, phòng ăn, phòng tắm, nhà kho…). Cửa vào các phòng, nhất là phòng khách, phòng ngủ, phòng làm việc tuy là cửa phụ trong một ngôi nhà nhưng lại là cửa chính của căn phòng đó, vì thế đều có thể ứng dụng những nguyên tắc của cửa chính vào việc bố trí những cửa này.
Ngoài ra, việc bố trí cửa phụ trong mối tương quan với cửa chính cần lưu ý một số điểm sau:
Thông thường, các cửa phụ phải nhỏ hơn cửa chính, nhất là đối với cửa hậu, cửa ngách. Nếu cửa hậu lớn hơn cửa chính, chính thoát đi sẽ nhiều hơn khí vào nhà dẫn đến gia chủ sẽ suy kiệt về sức khỏe và tài chính. Nếu cửa vào các phòng lớn hơn cửa chính sẽ làm vượng khí bị phân tán, các dịp may sẽ bị bỏ lỡ, con cái có xu hướng thoát khỏi sự quản lý, không nghe lời cha mẹ. Xét thấy: Trong một ngôi nhà, nếu cửa hậu, cửa ngách lớn hơn cửa chính sẽ làm mất mỹ quan, không gian sử dụng không hợp lý, bị lãng phí. Mặt khác, cửa hậu, cửa ngách, thường nhằm ở những chỗ khuất trong nhà, vì vậy nếu cửa quá rộng cũng là yếu tố gây mất an toàn, dễ bị kẻ gian đột nhập. Ở nước ta, phần lớn các ngôi nhà đều thiên về hưởng nam để bảo đảm “ấm về mùa đông, mát về mùa hè”, nếu cửa ngách (mở về hướng đông hoặc hướng tây) quá rộng cũng là yếu tố làm ngôi nhà bị nóng lên về mùa hè. Còn cửa hậu (mở về hướng bắc) rộng quá lại làm cho ngôi nhà bị lạnh về mùa đông).
Cũng trong mối quan hệ với cửa chính, quan niệm của phong thủy cho rằng, nếu cánh cửa chính đối thẳng với cửa hậu thì vượng khí vào nhà rồi lại ra đi quá nhanh. Như vậy, nhiều cơ may đến rồi lại đi, vượt khỏi tầm tay gia chủ. Cũng với quan niệm đó, phong thủy cho rằng khoảng cách giữa hai cửa chính và hậu thẳng nhau đó càng ngắn thì càng làm tăng sự bất lợi. Người ta kể rằng có một nhà thầu xây dựng làm lối vào nhà thông suốt ra vườn sau, ông ta đã gặp nhiều trắc trở, việc làm thưa thớt, lại phải chịu thua thiệt trong làm ăn. Sau khi được nhà phong thủy mách nước, ông ta treo khách và đặt chậu cây cảnh vào lối đi nhằm tán khí và rải cơ may đều khắp trong nhà, vì vậy ông ta đã trúng được một mỗi thầu lớn, gặt hái được vô số lợi lộc. Xét thấy: cửa chính và cửa hậu đối thẳng nhau sẽ làm cho luồng khí chuyển vận theo đường thẳng, tạo thành luồng gió mạnh không có lợi cho sức khỏe (dân gian thường gọi là gió lùa). Trong khi đó, các khu vực khác trong nhà lại không được thông gió, không khí tù hãm. Người ta gọi trường hợp này là “thông mà không thoáng”. Còn việc treo khách và đặt cây cảnh để đem đến cơ may là không có cơ sở. Có chăng, đặt cây cảnh sẽ cản bớt được luồng gió và làm giảm bớt cảm giác lối đi như một đường hầm sâu hun hút.
Thủy Văn – Xây Dựng/ Bộ xây dựng – Hà nội – số 18 -1998

Cô năm bốc cốt – phần 2

Đó là một thanh niên tuổi vừa đôi mươi, lúc nào cũng lạc quan mơ tới ngày thống nhất, được ra Hà Nội vào Lăng viếng Bác.
Ngồi nói chuyện với chị Năm Hồng, tôi nhớ tại đoạn đường vào xã Tân Bình để tìm đến nơi ở của chị mênh mông những cát. Xe máy đang chạy có lúc bị khựng lại, nghiêng ngửa như muốn đổ vì cát ngập bánh xe. Nơi đây thuộc vùng biên giới Tây Nam, nhiệt độ trên dưới 35 độ, trời nóng như rang. Thỉnh thoảng mới có một bóng dáng người qua lại hoặc chiếc xe bò kéo cao lênh khênh chở hàng, chở củi lầm lũi, uể oải đi trong ngập ngụa những cát.
Nếu được giao nhiệm vụ về vùng này làm công việc gì đó thì chắc nhiều người sẽ băn khoăn suy tính thiệt hơn và lo lắng khi phải cầm quyết định trên tay. Đằng này lại là một công việc đặc biệt. Nhưng đối với Đồ Thị Kim Hồng, quyết định không phải là tờ giấy mà là một điều thôi thúc từ trái tim. Một nỗi niềm khao khát cháy bỏng, làm sao để tìm được hài cốt liệt sĩ, đưa các anh về với người thân, để các anh yên nghĩ dưới những ngôi mộ có tấm bia in hình sao vàng năm cánh và khắc chữ Tổ quốc ghi công.
Suốt cả vùng xung quanh khu vực Trung ương cục ngày xưa và của cả bên, nghe nói chỗ nào có mộ liệt sĩ chị cũng tìm đến. Bà con, cô bác hoặc các em nhỏ chăn dắt đầu trâu bò phát hiện chỗ nào có mộ liệt sĩ cũng tin tưởng tìm đến báo cho “cô Năm bốc cốt”. Chị đi từ sáng tới tối, có khi không quản đường xa đi liền hai, ba ngày. Đến nơi, chi bỏ tiền túi thuê người đào mộ tìm hài cốt đồng đội. Ngôi mộ nào có lọ thủy tinh đựng mảnh giấy nhỏ ghi tên và quê quán của liệt sĩ, sau khi bốc cốt đưa về nhà, chị viết thư báo thân nhân đến nhận. Không có địa chỉ cụ thể, hài cốt liệt sĩ sẽ được đưa về nơi quy tập là Nghĩa trang Liệt Sĩ trên đồi 82 huyện Tân Biên, Tây Ninh.
Gian nhà nhỏ lợp tranh của chị là nơi chân của các liệt sĩ mà hài cốt mới tìm được. Chị Năm Hồng thuê người đóng kệ làm giá đặt giữ hài cốt. Trong nhà ngào ngạt mùi nhang thơm. Chị thấp hương, chắp tay vái với tấm lòng thành xin các anh nghỉ tạm nơi đây vài ngày, chờ gia đình đến nhận hoặc ban quy tập đến đón.
Một hôm, thấy lọ thủy tinh trong mộ liệt sĩ có đựng mảnh giấy nhỏ. Chị hồi hộp mở ra xem, mãnh giấy ghi dòng chữ: “Nguyễn Văn M…”. Chị nhớ ra, đó là một chiến sĩ trẻ măng. Khi bị thương biết không thể sống được, người chiến sĩ ấy nói trong tiếng thều thào: “Bao giờ thống nhất, chị nhớ viết tin cho bố mẹ em vào trong này…”. Lúc đó chị nghẹn ngào không nói nên lời mà chị gật đầu trong tiếng nấc. Lời hứa với đồng đội lúc lâm chung, vậy là đã được thực hiện.
Có người đến nhờ tìm mộ liệt sĩ, tìm được, họ cho tiền chị không nhận. Ngược lại có người đã đi nhiều nơi, đến đây vừa hết tiền, chị lại giúp họ trở về quê quán. Mới đây thôi chị đã giúp gia đình thân nhân liệt sĩ người Thanh Hóa bốn trăm nghìn đồng tiền tàu xe, trong khi mấy trăm ngàn đồng lương hưu trí của chị chi tiêu sinh hoạt phải tần tiện. Thế là chi lại đi vay. Đi vay để cho ..! Mấy cây điều từ ngày mới xuống đây nay đã được thu hoạch đến mùa bán hạt điều đủ để trả nợ.
Tôi hỏi thăm chuyện gia đình Chị Năm Hồng cho biết, hiện nay anh đang công tác trên thành phố Hồ Chí Minh, đi cùng với hai con.
Chị bỏ thành phố xuống đây một mình, anh và các cháu không nói chị sao?
Ông xã và cháu chị muốn tôi nghỉ ngơi. Nhưng ý thức tôi bảo tôi làm việc. Nói hoài không được cũng thôi Chị cười nhẹ nhàng. Nói không được càng không được. Bây giờ hàng tháng cha con đem tiền lương hưu trí xuống đây.
Đến nay chị đã tìm được bao nhiêu bộ hài cốt liệt sĩ?
Tôi cũng không rành!
Nghe nói sau này Bội Nội vũ cử một tổ công tác phối hợp cùng chị, hài cốt liệt sĩ tập kết ở nhà chị nhờ chuyển đi có lúc tới hơn ba mươi bộ?
Tôi đâu có nhớ!
Thói quen nghề nghiệp hay hỏi con số cụ thể. Nhưng trường hợp này hỏi xong rồi, tôi thấy mình vô duyên. Vì đây là công việc nghĩa tình, là một điều thiêng liêng, không có thước nào có thể đo, không có con số nào có thể nói lên được. Ở người phụ nữ có vẻ ngoài bình dị này, nhưng bên trong chất chứa một tình cảm thật lớn lao. Chị làm việc không vì một khái niệm thành tích, không quan tâm đến số lượng.
Tôi lại càng hiểu vì sao đất nước thống nhất, khi bao người về thành phố, về quê quán đẻ củng cố gia đình, về nơi đô hội để làm giàu, thì chị Năm Hồng người nữ thương binh, lại tìm đến một vùng hẻo lánh để tìm đồng đội. Nếu không có việc chị quay trở lại chiến trường xưa, sao có thể làm được những việc như hôm nay.
Tôi càng cảm nhận vẻ đẹp nhân cách, vẻ đẹp tinh thần của người phụ nữ này qua việc làm đày tình nghĩa của chị.
Nguyễn Ngọc Phan – Xây Dựng/ Bộ xây dựng – Hà nội – số 18 -1998

Cô năm bốc cốt – phần 1

LTS: Nhân kỷ niệm ngày Thương binh – liệt sĩ (27 – 7) báo Xây dựng xin giới thiệu một tác phẩm trong cuộc thi viết “Kỷ niệm sâu sắc về đề tài thương binh liệt sĩ” do báo Lao động Xã hội phát động từ 1 – 4 – 1997 đến 19 – 5 – 1998
Bà con, cô bác trong vùng Tân Biên, Tây Ninh nhiều người biết tiếng chị, đặt cho chị biệt danh “Cô Năm bốc cốt và kể về chị như huyền thoại. Lúc này, chị đang ngồi ngay trước mặt tôi. Trông chị bình dị như bao người phụ nữ khác. Vóc dáng mảnh mai, nét mặt hơi khắc khổ, từ nước da xanh xao đến dáng vẻ biểu hiện của người ốm yếu. Chi rủ rì kể chuyện với tôi như lời tâm sự:
Tên thật của chị 1à Đỗ Thị Kim Hồng, thương binh chống Mỹ. Ngày ấy chị là y tá bệnh viện Trung ương cục miền Nam. Thống nhất đất nước chị công tác tại bệnh viện Chợ Rẫy thành phố Hồ Chí Minh. Vết thương ở cột sống tái phát, đau ốm luôn, chị quyết định xin nghỉ. Một mình về xã Tân Bình, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh chỗ đóng trụ sở của bệnh viện liên cơ thời chống Mỹ, nơi mà chị rất quen thuộc, mua mảnh đất, cát tạm căn nhà lá, hàng ngày thuốc thang và tập luyện.
Sức khỏe hồi phục dần, chị bắt đầu đi tìm đồng đội. Phương tiện là cái cuốc, vài thẻ nhang, tấm vải đỏ, mảnh khăn xô… tất cả đựng trong cái giỏ nhựa xách tay. Chị lặng lẽ một mình luồn sâu vào rừng, nơi chiến trường xưa, xung quanh căn cứ địa của cơ quan Trung ương cục, nơi biết bao chiến sĩ đã hy sinh vì giải phóng miền Nam mà đồng đội mới chỉ kịp vội vàng chôn cất do hoàn cảnh thời chiến lúc đó.
Ngày ấy nơi đây là những “túi bom, túi đạn”. Bây giờ người ta tìm sắt, đào móng xây nền làm nhà… phát hiện có một liệt sĩ chị lại tìm đến. Với tất cả hy vọng tìm thấy nắm xương khô của đồng đội. Vậy mà các ngôi mộ khi đào lên, dỡ tấm ni lông ra, bên trong chỉ còn lại cái cán nhựa của bàn chải đánh răng! Có ngôi mộ khi đào lên chỉ còn cái bi đông đã han rỉ. Chị ngồi lặng đi thở dài. Có ngôi mộ hài cốt còn nguyên vẹn, chị lại nhớ đích danh, vị trí này chôn người chiến sĩ cảnh vệ cơ quan Trung ương cục.
Nguyễn Ngọc Phan – Xây Dựng/ Bộ xây dựng – Hà nội – số 18 -1998

Nói thêm về cửa chính

Trong việc thiết kế của chính, phong thủy còn quan niệm rằng, nếu mặt cửa chính đối thẳng vào góc nhà khác sẽ gặp sự chẳng lành. Cũng như vậy, nếu để đầu hồi nhà khác đâm thẳng vào cửa chính thì góc nhọn nóc nhà kia như mũi tên nhằm bắn vào cửa ắt sẽ gặp nguy hiểm. Nếu nhà đối diện lại là nhà cao tầng sẽ đe dọa đến dịp may, làm mất cơ hội thành công và cũng có thể xảy ra kiện cáo. Để khắc phục, nhà phong thủy thường cho treo gương ở trước cửa chính để chiếu phản lại các góc nhọn của nhà đối diện. Phong thủy lại cho rằng, nếu tường vây nhà khác có góc đối vào cửa nhà ta cũng không có lợi. Nếu góc đối bên trái sẽ không có lợi cho đàn ông, góc đối bên phải sẽ không có lợi cho đàn bà. Xét thấy những quan niệm trên đều không có cơ sở, nhiều khi các nhà phong thủy lại đặt các tình huống rồi thêm thắt vào các ý nghĩa chủ quan, mơ hồ để thần bí hóa thuật phong thủy, lâu dần mang tính phổ biến và có tác dụng ám thị đối với những người quá tin tưởng đến mức mù quáng vào các thầy phong thủy.
Lại nói về các thiết kế, cấu trúc cửa chính, nếu cửa làm một lớp thì cánh cửa mở vào trong nhà là thuận, còn đặt cánh cửa mở ra ngoài là nghịch. Cửa mở thuận sẽ tạo cho vượng khí vào nhà dễ dàng, trái lại mở cửa nghịch sẽ đẩy vượng khí đi mất. Xét thấy trong thực tế, nếu cửa mở ra ắt phải lắp bản lề ra phía ngoài sẽ không bảo đảm an toàn, kẻ gian có thể phá bản lề để đột nhập vào nhà. Mở cửa nghịch, người trong nhà mở cửa ra nếu sơ ý cũng dễ làm cánh cửa đột nhập vào khách đứng chờ bên ngoài. Mặt khác, cánh cửa mở ra làm ảnh hưởng đến mỹ quan của mặt tiền ngôi nhà, cánh cửa cũng dễ bị tác động của mưa, nắng làm hư hỏng.
Xét trong thực tế, cửa hợp cách khi mở ra ta sẽ tiếp cận được ngay không gian thoáng đãng của các phòng; ngược lại cửa mở thất cách người từ ngoài bước vào nhà, mặt sẽ chạm ngay vào bức tường bên cửa ngôi nhà, gây bức bối khó chịu, về mặt tiện dụng, cửa mở hợp cách khi mở ra cánh cửa sẽ ép vào tường, không cản trở được và tiết kiệm không gian trong phòng một cách tối đa. Ngược lại, cửa mở thất cách sẽ chiếm mất một không gian trong phòng, cản trở đến sự đi lại và cũng gây trở ngại đến việc bố trí nội thất và trang trí căn phòng.
Để sửa chữa nhưng bất lợi của cửa mở thất cách, các nhà phong thủy thường đặt một tấm gương trên tường và cho rằng làm như thế là đã đổi được cửa mở từ trái chiều thành thuận chiều. Thực ra, cơ sở khoa học đây là tấm gương đã tạo ra không gian rộng thêm, làm cho ta khỏi cảm thấy “tức mắt” khi bước vào phòng.
Như bài trước chúng tôi đã đề cập, kích thước của cửa chính phải phù hợp với kích thước của ngôi nhà, nếu nhỏ quá sẽ làm cho vượng khí vào nhà khó khăn. Để chữa khiếm khuyết này, bạn có thể treo tấm gương bên trên hoặc cả 2 bên mặt cửa để mở rộng cửa một cách tượng trưng về cả chiểu cao và chiều rộng.
Thủy Văn – Xây Dựng/ Bộ xây dựng – Hà nội – số 18 -1998