Tại kỳ họp thứ tư (Quốc hội khóa X) – Phần 2

Còn vấn đề dạy thêm, học thêm, nhức nhối này dân và báo chí đã kêu quá nhiều, để tránh ảnh hưởng xấu cho ngành giáo dục và đào tạo, Luật nên có quy định cụ thể thành điều CẤM hẳn hoi vì nếu đã học theo chương trình chuẩn, dạy có chất lượng thì không cần thêm nữa, trừ việc duy trì trường bán trú, nhưng các trường này phải chịu trách nhiệm trước Nhà nước về chất lượng đào tạo, bởi thế nên điều chỉnh, bổ sung một số điều trong luật mới.
Sau nữa, tôi nhất trí với các ý kiến vừa phát biểu: Không nên có điều quy định trong chương II về lương giáo dục vì đã quy định trong luật là phải thực hiện, thực hiện nhiều năm. Việc quy định xếp lương giáo viên là cao nhất trong sự nghiệp hành chính là không bảo đảm công bằng xã hội, nhất là khi so với các ngành như Công an, quân đội, chỉ nên xếp trong Luật là: Nhà nước nên thực hiện các chính sách về tiền lương ở mức thuộc loại cao nhất trong ngành giáo dục. Cũng không nên để trong Luật, quy định hàng năm ngân sách Nhà nước dành cho giáo dục không dưới 15% mà chỉ nên nói Nhà nước ưu tiên ngân sách hàng đầu cho giáo dục bởi nguồn tăng thu ngân sách biến động thường xuyên, ngành giáo dục lại đòi chiếm phần cố định là không hợp lý.
Không nên ghi vào Luật sinh viên sư phạm được miễn học phí, được học bổng 100% để tránh tình trạng sau 5 năm nữa, số thầy, cô giáo đủ sẽ rất khó về kinh phí giải quyết. Cũng không nên quy định Nhà nước có chính sách ưu tiên và nhà ở cho giáo viên, vì quỹ đất là cố định nên không thể có chế độ cấp đất được vì đã là luật thì phải thi hành nghiêm, tránh trói tay Quốc hội, trói tay Chính phủ bởi những điều không thể thực hiện.
Ông Hữu Thỉnh, Đại biểu quốc hội tỉnh Bến Tre:
Trong dự thảo trình Quốc hội kỳ họp này, Luật giáo dục nói về những nguyên lý chung, về giáo dục, nghề giáo và người học khá rõ. Nhưng phần nói về nội dung giáo dục về chương trình, về sách giáo khoa, giáo trình thì chưa rõ, chưa thỏa đáng. Dạy như thế nào là rất quan trọng nhưng dạy cái gì còn quan trọng hơn nhiều.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương khóa VIII về giáo dục và đào tạo là một định hướng chiến lược hết sức quan trọng đang được thể chế hóa để nghị quyết đi vào đời sống. Thực hiện nghị quyết có nghĩa là trong những việc đó, theo tôi là cần có một cách nhìn toàn diện, đánh giá thực chất để rút ra được những bài học kinh nghiệm quý báu từ thực tiễn 10 năm đổi mới của ngành giáo dục và đào tạo. Trong chúng ta, ai mà chẳng đã từng là học sinh, sinh viên, cho đến lúc trưởng thành, dấu ấn về những thầy, cô giáo không những không mờ đi mà càng như đậm thêm. Vạn sự thành bại trong nhà trường, tôi nghĩ đến vai trò của các thầy, các cô. Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, giảng viên, đội ngũ quản lý giáo dục là biện pháp hàng đầu để nâng chất lượng giáo dục. Không phải không có lý khi cha mẹ đưa con tới trường, đều nói: “Chúng tôi có công đẻ, công nuôi dưỡng cháu, còn cháu có thành người hay không là trông cậy ở các thầy, cô giáo”. Xét ra, lời gửi gắm đó không thật hoàn toàn đúng và đủ nhưng chắc chắn là không sai.
Lại Thanh Bình – Xây Dựng/ Bộ xây dựng – Hà nội – số 37 -1998

Tại kỳ họp thứ tư (Quốc hội khóa X) – Phần 1

Các đại biểu quốc hội nêu rõ “Luật giáo dục cần bảo đảm sự công bằng, hợp lý và mang tính khả thi”
Ông Tào Hữu Phùng – Đại biểu quốc hội tỉnh Hà Tây:
Ý kiến của hầu hết các đại biểu Quốc hội là không nhất trí với quy định khi trong dự thảo Luật giáo dục “Hàng năm ngân sách Nhà nước dành cho ngành Giáo dục không dưới 15%”, không nhất trí với việc tổ chức cấp học: giáo dục thường xuyên và vấn đề dạy thêm, học thêm.
Dự thảo Luật Giáo dục lần này đã tham khảo, bổ sung được nhiều ý kiến của các cử tri. Tuy nhiên, nhìn tổng thể, Luật vẫn còn nhiều nhược điểm. Trước hết, qua dự thảo thấy giáo dục (GD) của chúng ta chưa tiến tới được tầm hiện đại, hội nhập. Sau nữa, vấn đề quan trọng là tăng cường sự quản lý Nhà nước với ngành giáo dục cũng như những giải pháp để nâng tầm nước ta với khu vực và thế giới, dự thảo Luật chưa đề cập đến mà chỉ nặng về đòi hỏi chính sách của Nhà nước với giáo dục. Nói đúng hơn, tư tưởng chỉ đạo còn gò ép trong một số thủ tục hành chính đơn giản, chưa có tầm chiến lược về định hướng giáo dục là quốc sách hàng đầu. Trước hết về tên gọi, để tên luật giáo dục và đào tạo là hợp lý vì như vậy bao quát hơn. Tuy nhiên, luật giáo dục phải chi phối tất cả các ngành, các cấp… Sau nữa, theo tôi không nên để hệ thống giáo dục thường xuyên bởi những nhức nhối, tiêu cực nhất của ngành giáo dục xảy ra đa số là ở mảng này mà nên để giáo dục thị xã gắn với các cấp đào tạo để tránh giả mạo giấy tờ. Về các loại hình đào tạo, thực ra tại chức hay chính quy chỉ là ở tên gọi còn nội dung nhất thiết phải thống nhất theo một chương trình chuẩn. Ngành giáo dục và đào tạo chỉ nên có một Vụ duy nhất là Vụ Đại học và việc cấp bằng cũng nên để Vụ này đảm nhận luôn, việc cấu tạo các vụ tách rời nhau như hiện nay ở ngành giáo dục và đào tạo là không hợp lý, không đúng chuyên môn.
Tôi cũng không tán thành xếp nhà trẻ trong hệ giáo dục quốc dân vì đặc thù lứa tuổi. Để đỡ gánh nặng ngân sách nên xã hội hóa bằng cách thức bán công để toàn dân chăm sóc lứa tuổi này. Bởi đã nghèo ngân sách thì không nên “ôm” bao cấp lớn và thực tế là cũng không đạo lý nếu xếp ngạch này như hiện này. Nhược điểm này nên sửa lại hợp lý.
Vấn đề đào tạo sau Đại học: Nên có sự phân biệt chuyên ngành trong hàm học vị như tiến sĩ khoa học hoặc tiến sĩ cấp cao, muốn vậy Chính phủ nên có những văn bản dưới luật hướng dẫn cụ thể. Mặt khác, phải thấy được chất lượng đào tạo là vấn đề quan trọng nhất trong giáo dục và đào tạo và muốn đào tạo được một đội ngũ cán bộ khoa học có tài năng thật sự, Luật giáo dục nên có những quy định chặt chẽ để đào tạo có chất lượng, tránh sự đào tạo ồ ạt, không bảo đảm chất lượng như thời gian qua, rất tai tiếng. Đồng thời, đào tạo phải theo một nội dung thống nhất, chuẩn cho từng ngạch họ. Trong luật này, Bộ giáo dục và đào tạo cũng nên thiết kế được một chương trình chuẩn hóa gọi là chuẩn quốc gia, tạo môi trường bình đẳng giữa các trường, nhất là giữa bán công và trường công lập.
Lại Thanh Bình – Xây Dựng/ Bộ xây dựng – Hà nội – số 37 -1998

Những ngày đầu khởi Nghiệp

Mùa thu năm 1958 tôi tới Sài Gòn hỏi thăm vào nhà cụ Tân, gặp Ban chỉ huy công trường xây dựng xí nghiệp xi măng, để liên hệ cho đoàn học sinh trường Trạng Bùng (Thạch Thất) xuống thăm quan phong trào lao động của công nhân, bổ xung cho chương trình ngoại khóa về công nghiệp địa phương.
Các anh Nguyễn Hùng, Đỗ Huỳnh Tâm, Trần Ngọc Duyệt và ở ban Kiến thiết đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ chúng tôi. Chỉ sau 3 ngày xí nghiệp cắt băng khánh thành (28 – 11 – 1958) tôi cùng 3 đồng chí giáo viên giữa hướng dẫn cho hơn 70 học sinh về nhà máy thăm quan. Tôi nhớ như in, khu sản xuất lúc đó là 5 dãy nhà tre gỗ, mái ngói xi măng. Sân là một bãi rộng phơi đất sét đỏ quạch, kề sân phơi là dãy nhà có 5 cái cối giã gạo loại to đùng để giã đất. Các anh Nguyễn An, Nguyễn Hội ở Tổng cục Hậu cần đang theo dõi chỉ đạo sản xuất, dẫn chúng tôi vừa đi vừa tâm sự:
“Đất nước ta đang bị chia cắt, Mỹ – Ngụy đang gây chiến tranh, việc làm ra xi măng để phục vụ quốc phòng là hết sức cần thiết. Thiết bị để sản xuất chúng ta chưa có thể mua được. Quân đội thì quyết tâm cao, Chính phủ động viên khích lệ, chúng tôi phải tìm hướng sản xuất theo cách của mình. Phương tiện sản xuất ban đầu mà các anh đã nhìn thấy là 5 chiếc lò vôi cũ sạt lở và một tí búa, ít choong…
Để thực hiện công việc, Ban kiến thiết sang Gia Lâm mua gạch chịu lửa về lát lòng lò vôi, nhằm nâng cao nhiệt lượng để nung clinker. Một tốp khác xuống nhà máy cơ khí Duyên Hải (Hải Phòng) để mua sắm một số thiết bị. Đồng thời một loạt bể khoắng vôi, lắng đất được xây lên.
Anh Ngô Thân, một cán bộ quân đội miền Nam tập kết, là người phụ trách quy trình chế tác xi măng đã kể về cách thức pha trộn. Lúc đầu là đất sét đào lên phơi khô, giã nhỏ rồi lấy sàng, lấy dần làm búa để dần, sàng cho nhỏ mịn. Đá nung thành vôi, đưa vào bể tôi, rồi cũng lọc qua mắt dần, sàng để gạn sạn. Sau cho sữa vôi và đất giã theo định lượng vào bể khoắng dùng cào, cuốc, dùng vồ lấy sức người mà du qua, giật lại cho thật nhuyễn chẳng khác gì người phụ hồ luyện vữa xây nhà. Nếu thấy chưa nhuyễn thì công nhân đi ủng lội vào giẫm, đạp cho đống hỗn hợp vôi + đất + than thật dẻo, thật giấu, sau mới đưa ra đóng “oản”. Đóng “oản” là thao tác đưa hỗn hợp vôi + đất + than vào khuôn. “Oản” đóng xong bày lên nong đưa ra bãi cả phơi. Gặp khi trời nắng thì mới đưa vào nung làm clinker.
Đốt lò nung clinker cũng chẳng khác gì đốt lò vôi. Nhưng đáng lưu ý là nhiệt độ phải luôn luôn cao. Vất vả nhất của việc đốt lò là không may vớ phải mẻ củi chưa khô, than ướt, hay đang đốt mà trời tắt gió hoặc đổ mưa thì thật là khốn đốn. Lửa trong lò không đủ nhiệt thế là lại phải huy động công nhân đem quạt mo ra thay nhau quạt. Nung được clinker rồi cũng không có mấy nghiền lại phải đưa vào.
Khi tôi trở về không khí sản xuất vẫn hối hả, các lò nung ngùn ngụt khói. Đi một vòng qua các phân xưởng như người đi xa mới trở về nhà. Tôi hỏi thăm những người cũ, đã nhiệt tình hướng dẫn cho thầy trò tôi thăm quan… người còn, người mất, người khoác súng lên đường đi chiến đấu ở miền Nam. Trong lòng tôi trào lên những nỗi xốn xang, bồi hồi nhớ lại ngày đầu lập nghiệp.
Về Sài Gòn lúc ấy cơ cấu tổ chức nhà máy cũng có nhiều thay đổi, Tổng cục Hậu cầu quân đội không quản lý xí nghiệp nữa mà đã bàn giao sang Ty công nghiệp tỉnh Sơn Tây. Xí nghiệp cũng có bước phát triển mới. Khu vực sản xuất có máy phát điện 150 KVA để thắp sáng, chạy quạt máy tiếp gió cho lò nung, máy nghiền bi công suất 0,5 tấn/ giờ do cơ khí Duyên Hải chế tạo để nghiền clinker thay thế cho bàn đạp chân, cối giã và bàn nghiền xa luân của những năm đầu. Hệ thống lò nung được cải tạo lại nâng cao sức chứa, sức nóng. Nhiều sáng kiến cải tiến kỹ thuật trong Cán bộ công nhân được áp dụng vào sản xuất. Điển hình là sáng kiến đưa guồng nước công nghiệp để vào guồng hỗn hợp đất và phụ gia từ bể chứa lên lò nung. Sáng kiến này tạo tiền đề cho xí nghiệp chuyển đổi phương pháp sản xuất xi măng từ công đoạn đóng “oản” sang công nghệ ướt. Sáng kiến này tiết kiệm được nhân công và sự hao phí nguyên vật liệu, năng suất cao hơn, chất lượng tốt hơn.
Do ảnh hưởng lớn của cuộc chiến tranh, nguyên vật liệu cho sản xuất thiếu thốn, giao thông cách trở, cái sống và cái chết ở nhà máy có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Tập thể cán bộ và công nhân ở đây vẫn ngà đêm bám xưởng, bám lò bất chấp mọi khó khăn và sản phẩm vẫn đến với các công trình xây dựng. Giai đoạn này phương án sản xuất thích ứng thời chiến đã được vạch ra. Các bộ phận được phân tán nhỏ lẻ ra nhiều nơi, xây dựng cơ sở hậu bị đề phòng chiến tranh diễn biến phức tạp. Nhờ chuẩn bị tốt cho sản xuất và sẵn sàng chiến đấu, xí nghiệp vẫn giữ vững được sản phẩm 5 năm liền từ 1972 đến 1976 liên tục hoàn thành kế hoạch và được nhà nước tặng thưởng nhiều Huân chương…
Trải qua 40 năm, một nhà máy được xây dựng từ khói lửa chiến tranh, dày dạn ở một chặng đường lịch sử, với đội ngũ công nhân có mặt kể từ ngày đầu khởi nghiệp hôm nay người mất người còn và rất nhiều người đã nghỉ hưu, công sức của các anh các chị đang được thế hệ kế tiếp trân trọng phát huy. Nhân ngày lễ kỷ niệm 40 năm thành lập Công ty, một cơ sở sản xuất xi măng địa phương đầu tiên của nước nhà, tôi xin thay mặt con cháu thắp một tuần hương trước anh linh của những người quá cố từng gắn bó một thời với đơn vị. Xin các anh, các chịu tiếp tục phù hộ cho nhà máy của chúng ta càng vững mạnh lên trong cơ chế thị trường.
Trọng Tiến –Xây Dựng/ Bộ xây dựng – Hà nội – số 36 -1998

Tập trung nguồn lực khắc phục lũ lụt tại các tỉnh miền Trung

Phó thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đi kiểm tra và chỉ đạo khắc phục hậu quả thiên tai
Sau khi cơn bão số 5 đổ bộ vào nam Phú Yên và bắc Khánh Hòa ngày 20 – 11 – 1998, khu vực miền Trung đã có mưa rất to. Tính đến 14 giờ ngày 22 – 11 – 1998, mức lũ tại khu vực miền Trung được xem là lớn nhất kể từ nhiều năm nay.
Tại Thành phố Đà Nẵng có gần 6000 ngôi nhà bị ngập lụt chủ yếu ở vùng thấp Hòa Vang, có 24 người chết vớt được xác, nhiều cây lớn bị đổ, hàng ngàn hec ta lúa màu bị ngập, nhiều tàu ra khơi ở quận Sơn Trà vẫn chưa có tin tức. Quốc lộ 1 và đường sắt bị ách tắc hoàn toàn. Tại Quảng Nam, hầu hết đồng bằng vùng ven sông bị ngập lụt nặng, có nơi sâu từ 2 – 4 mét. 200.000 hộ dân lâm vào cảnh lụt ngập, hàng trăm ngôi nhà bị nước cuốn trôi, 14 người chết vớt được xác. Hàng trăm hộ dân ở các huyện Điện Bàn, Duy Xuyên, Đại Lộc, phố cổ Hội An phải di dời. Thiệt hại vật chất ước tính gấp 2 lần so với trận lụt lịch sử năm 1964. Tính đến 16 giờ ngày 22 – 11, mực nước trên sông Vu Gia tại Ái Nghĩa là 9,84 mét cao hơn mức báo động 3 (MBDD) là 1,04 mét. Trên sông Hàn tại Cẩm Lệ là 2,52 mét cao hơn mức báo động 3 là 0,28 mét. Trên sông Thu Bồn tại Giao Thủy là 8,94 mét cao hơn mức báo động 3 là 0,34 mét. Tại Câu Lâu là 1,55 mét cao hơn mức báo động 3 là 0,85 mét, tại Hội An là 2,64 mét cao hơn mức báo động 3 là 0,94 mét. Tại Thừa Thiên – Huế mưa lớn đến mức máy bay không thể hạ cánh xuống sân bay Phú Bài. Nhiều đoạn Quốc lộ 1 bị ngập. Mực nước sông Hương và sông Bồ lên cao ở mức báo động 3. Các huyện Phong Điền, Phú Lộc và một số phường trong thành phố Huế đã ngập lụt đến ngày thứ 4. Tại Quảng Trị, mưa vẫn lớn, lượng mưa trung bình là 250 ly, mực nước sông Bến Hải dâng cao ở mức báo động 3. Hơn 23.800 ngôi nhà bị ngập lụt. 5.500 héc ta lúa, màu bị phá hoại. Nhiều đoạn dường bị sụt lở. Có 2 người chết và 5 thuyền đánh cá mất tích. Trong ngày 20 – 11 ở Khánh Hòa, lượng mưa đạt 350 ly, đoạn Quốc lộ ở Cam Ranh, Diêm Khánh bị lũ cắt đứt gây gián đoạn giao thông. Tại Bình Định, lượng mưa trung bình 200 ly, mức nước sông Hà Thanh và sông Côn trên mức báo động 3. Tại Quảng Ngãi, mực nước trên sông Trà Khúc cao hơn mức báo động 3 là 1,6 mét; có 3 người chết do lũ cuốn. Ách tắc giao thông xảy ra tại các trục đường Bình Sơn – Trà Bồng, Nghĩa Hành – Quảng Ngãi và Quốc lộ 1 đi qua thị xã.
Trước tình hình lũ lụt gây thiệt hại tại miền Trung. Sáng ngày 22 – 11, đồng chí Nguyễn Tấn Dũng, Ủy viên Bộ chính trị, Phó Thủ tướng cùng đại diện ban chỉ huy phòng chống lụt bão Trung ương và các Bộ liên quan đã vào kiểm tra tình hình, chỉ đạo công tác khắc phục hậu quả thiên tai tại địa phương và trực tiếp đi đến các vùng lũ lụt bị thiệt hại nặng để thăm hỏi và động viên nhân dân. Phó Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã chỉ đạo các địa phương cần chú ý bảo đảm an toàn cho nhân dân, đặc biệt phải có biện pháp sơ tán gấp người già, trẻ em đến nơi an toàn và bố trí chỗ ở tạm thời cho họ. Tuyệt đối không để tăng số người chết và người đói do lũ lụt. Tổ chức chặt chẽ công tác hỗ trợ cứu đói đồng thời chú trọng và chuẩn bị ngay từ bây giờ công tác phòng chống dịch. Ổn định thị trường và yêu cầu lực lượng quân đội của Quân khu 5 và không quân cứu trợ những vùng bị nước vây hãm.
Ngô Hữu Đoàn – Xây Dựng/ Bộ xây dựng – Hà nội – số 36 -1998

Thư của Bộ Trưởng Bộ xây dựng gửi các thầy giáo, cô giáo các trường đào tạo ngành xây dựng nhân ngày nhà giáo Việt Nam 20 – 11 – 1998

Hà Nội, ngày 28 tháng 10 năm 1998
Các Thầy giáo, Cô giáo thân mến!
Nhân ngày Nhà giáo Việt Nam 20 – 11 – 1998 tôi thân ái gửi tới các Thầy giáo, Cô giáo và Cán bộ công nhân viên các trường đào tạo thuộc ngành Xây dựng lời chúc mừng tối đẹp nhất.
Trong năm qua, thực hiện Nghị quyết 2 Trung ương khóa VIII về chiến lược phát triển khoa học và giáo dục trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, các trường đào tạo thuộc Ngành mặc dù còn nhiều khó khăn, nhưng đã có nhiều cố gắng trong phong trào thi đua dạy tốt, học tốt, hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch đào tạo được giao. Các Trường đã đào tạo bổ sung cho Ngành Xây dựng hàng ngàn kỹ sư, kiến trúc sư, kỹ thuật viên và công nhân kỹ thuật, đồng thời đào tạo lại, bồi dưỡng nâng cao trình độ cho hàng trăm lượt cán bộ quản lý. Lực lượng cán bộ và công nhân do các trường đào tạo làm việc ở các đơn vị trong Ngành Xây dựng đã phát huy tốt trong lao động sản xuất góp phần hoàn thành nhiệm vụ Nhà nước giao cho Ngành xây dựng.
Thay mặt Bộ xây dựng tôi xin bày tỏ khen ngợi và đánh giá cao những đóng góp của các Thầy giáo, Cô giáo trong thời gian qua.
Trong những năm tới tình hình kinh tế của đất nước vẫn còn nhiều khó khăn; nhưng nhiệm vụ đào tạo lực lượng lao động kỹ thuật cho Ngành càng trở nên nặng nề hơn. Yêu cầu những chuyên gia giỏi đầu đàn về các lĩnh vực quản lý của Ngành, những cán bộ quản lý, chuyên môn, nghiệp vụ giỏi và lực lượng công nhân kỹ thuật có tay nghề cao, có tác phong công nghiệp, có kỷ luật lao động… đang là nhu cầu cấp thiết ở tất cả các cơ quan, đơn vị trong ngành xây dựng và của xã hội. Vì vậy đòi hỏi các Thầy giáo, Cô giáo, Cán bộ Công nhân viên các trường thuộc ngành cố gắng hơn nữa để thực hiện nhiệm vụ đào tạo nhân lực nhân tài ngành xây dựng. Tôi mong các thầy giáo, cô giáo tiếp tục phát huy truyền thông sẵn có, đẩy mạnh phong trào dạy tốt học tốt, phấn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ vì sự nghiệp phát triển Kinh tế – Xã hội ở thời kỳ mới – công nghiệp, hóa đất nước.
Một lần nữa tôi gửi tới các Nhà giáo trong Ngành lời chúc mừng sức khỏe và hạnh phúc.
Bộ trưởng bộ xây dựng Nguyễn Mạnh Kiểm – Xây Dựng/ Bộ xây dựng – Hà nội – số 35 -1998

Nghiên cứu sản xuất thành công xi măng giếng khoan – G

Xi măng giếng khoan (XMGK) là loại vật liệu đặc biệt phục vụ công tác thăm dò và khai thác dầu khí, dùng để bơm trám giữ vững ống chống và ngăn cách các vỉa tích tụ dầu khí với các vỉa đất đá khác. Tính năng cơ lí hóa có nhiều phức tạp và giá trị thực tiễn lớn của nó nên xi măng giếng khoan không dễ chế tạo. Vì thế, đề tài Xi măng giếng khoan thu hút rất nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu khoa học và ứng dụng sản xuất.
Năm 1971, Viện vật liệu xây dựng đẫ bắt đầu nghiên cứu đề tài Xi măng giếng khoan. Đến năm 1986, các đề tài của Viện đều hướng vào việc chế tạo Xi măng giếng khoan theo tiêu chuẩn của Liên Xô trước đây. Trước tình hình thăm do và khai thác dầu khí ở Việt Nam có những thay đổi về công nghệ bơm trám nên nhu cầu về chủng loại Xi măng giếng khoan cũng thay đổi theo. Mặc dù giai đoạn này có nhiều công trình nghiên cứu Xi măng giếng khoan ở cả trong và ngoài Viện Vật liệu xây dựng, nhưng hầu hết đều chưa giải quyết được tận gốc, kết quả chưa đúng, chưa đủ so với tiêu chuẩn của Viện dầu mỏ Mỹ API (American Petrolium Insitute). Xi măng giếng khoan được API định nghĩa và phân ra 9 chủng loại, đó là A – B – C – D – E – F – G – J, trong đó Xi măng giếng khoan chủng loại G (XMGK – G) được sử dụng phổ biến nhất. Theo quy định của API, Xi măng giếng khoan – G chỉ bao gồm clanhke và thạch cao, không được pha thêm bất kỳ phụ gia nào khác. Ngoài việc sử dụng bơm trám các lỗ khoan có độ sâu từ 0 – 2400 mét, Xi măng giếng khoan – G còn được dùng làm nền để pha thêm phụ gia tạo ra xi măng D – E – F… Hiện nay, nhiều nước trên thế giới đang thừa nhận cách định nghĩa phân loại của API và sử dụng vào thực tế bơm trám. Tuy nhiên, chỉ có 1 số nước sản xuất được Xi măng giếng khoan – G. Những nước không nghiên cứu được công nghệ sản xuất thường phải mua bản quyền nước ngoài. Ở nước ta, nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu của ngành công nghệ dầu khí, đề tài nghiên cứu công nghệ sản xuất Xi măng giếng khoan – G được viện Vật liệu xây dựng thực hiện từ tháng 6 – 1996 và kết thúc nghiệm thu 14 – 2 – 1998. Hội đồng khoa học (Bộ xây dựng) đã đánh giá đề tài hoàn thành ở mức xuất sắc. Ngay sau khi xác định được công nghệ chế tạo trong phòng thí nghiệm, đề tài đã được sản xuất thí nghiệm trên dây chuyền lò quay Pilot của Viện Vật liệu xây dựng. Sản xuất nghiệm thu đạt chất lượng của API. Mẫu xi măng đã được kiểm tra chất lượng tại Mỹ, Singapore và Anh. Kết quả kiểm nghiệm đã xác định Xi măng giếng khoan – G do Viện Vật liệu xây dựng nghiên cứu sản xuất đạt chỉ tiêu kỹ thuật của API.
Từ thành công đó, Viện Vật liệu xây dựng tiến hành sản xuất 500 tấn Xi măng giếng khoan – G trên quy mô nông nghiệp. Sau khi gửi chào hàng cho một số hàng của Mỹ (BJ), của Anh (Lloyd), Canada Vietsovpetro, sản phẩm được các hãng đánh giá cao và đã nhận được đơn đặt hàng. VIETSOVOPETRO đã hoàn tất các thí nghiệm cho bơm trám 2 giếng khoan ở Vũng Tàu. Hãng Lloyd của Anh đã sử dụng 40 tấn sản phẩm để bơm trám tại Việt Nam và đánh giá cao chất lượng Xi măng giếng khoan – G do ta sản xuất.
Đề tài đã được Bộ xây dựng nghiệm thu, Nhà nước quyết định hỗ trợ Viện Vật liệu xây dựng triển khai dự án P (cấp quốc gia) để hoàn thành công nghệ sản xuất Xi măng giếng khoan – G. Việc triển khai sẽ thực hiện tại công ty xi măng Hoàng Thạch trong thời gian gần đây.
Thành công bước đầu của đề tài trong nghiên cứu và đưa vào ứng dụng cũng có sự đóng góp tích cực của Công ty dung dịch khoan và hóa phẩm dầu khí (DMC), sự hỗ trợ của Tổng công ty dầu khí Việt Nam và Vietsovpetro.
PTS. Lương Đức Long – Xây Dựng/ Bộ xây dựng – Hà nội – số 35 -1998

Đổi mới phương pháp dạy và học kiến trúc

Trong thập kỷ qua, Trường Đại học kiến trúc Hà Nội đã hai lần cải tiến mục tiêu chương trình đào tạo kiến trúc sư, qua đó, nhiều yêu cầu, mục tiêu và nội dung chương trình được thay đổi, bổ sung cho phù hợp với xu thế phát triển của ngành. Tuy nhiên, ngay những vấn đề mà chúng ta bàn tới vừa qua trong mục tiêu, chương trình đào tạo Kiến trúc sư sau một năm thực hiện cũng đã bộc lộ những điều bất cập cần phải khắc phục ngay hoặc có những nội dung chưa được triển khai phù hợp với tầm vóc của nó, qua đó khẳng định việc đổi mới nội dung chương trình đào tạo Kiến trúc sư phải là việc làm thường xuyên và liên tục.
Trước hết, dạy và học kiến trúc phải như một hình thức truyền nghề. Qua 2 năm thực hiện, việc học đồ án theo xưởng cho đến nay đã được khẳng định là đúng đắn. Nhiều nước trên thế giới đã thực hiện phương pháp này từ lâu.
Qua thực tế các lớp bồi dưỡng sinh viên học đồ án kiến trúc chuẩn bị cho các kỳ thi trong nước và quốc tế, chúng tôi nhận thấy với một vài cán bộ giáo dục cùng một lúc có thể dạy từ năm thứ hai đến năm thứ năm với nhiều đề tài khác nhau và với thời gian hoàn toàn linh hoạt, nhưng thầy trò vẫn rất tâm huyết, các buổi học rất sinh động có hiệu quả cao.
Tuy còn quá sớm để kết luận những cái được và chưa được cũng như những việc cần làm cho việc dạy và học đồ án theo xưởng, nhưng cũng cần tổng kết, đánh giá, và có những giải pháp thích hợp, bởi vì: số thầy truyền nghề và số sinh viên học nghề gắn bó vầ tâm huyết với xưởng của mình còn ít, và còn mang tính chất đối phó, nhưng áp dụng một phương pháp mới trong khuôn khổ quy chế chung hiện nay chắc chắn cũng sẽ gặp khó khăn, tuy nhiên việc cải tiến và rút kinh nghiệm dần dần vẫn là rất cần thiết.
Dạy và học Kiến trúc phải gắn với thực tế:
Vấn đề tiếp cận thực tế cần được bố trí cho từng khóa học với những nội dung phương thức thích hợp (tham quan, thực tập, làm việc tại các xưởng) và nhất là vấn đề thực tế theo môn học: thí dụ đến từng loại đồ án, sinh viên cần được tham quan khu đất và công trình tiêu biểu và cso những trung tâm tư liệu thông tin, phòng trưng bày… giúp sinh viên tiếp thu một cách nhanh chóng. Bởi vì nếu như cách đây không lâu, sinh viên không có điều kiện tiếp cận thực tế (kể cả sách vở, tài liệu) thì hiện nay mặt yếu lại là chưa tổ chức cho sinh viên tiếp cận được nhiều với thực tế và bản thân sinh viên chưa có ý thức đúng mức về vai trò của công việc này. Lòng say mê nghề nghiệp của sinh viên cần được định hướng đúng đắn, bởi vì chính họ trong tương lai sẽ là người phải đối mặt với thực tế.
Dạy và học Kiến trúc với nghiên cứu khoa học:
Nghiên cứu khoa học của sinh viên chủ yếu là tìm hiểu và luyện tập phương pháp luận nghiên cứu tham gia khảo sát hoặc giúp CBGD, các nghiên cứu tham gia khảo sát, điều tra lập hồ sơ Nghiên cứu khoa học… hay tham gia các cuộc thi trong nước và quốc tế để sinh viên hình thành phương pháp Nghiên cứu khoa học phục vụ cho việc nghiên cứu trong các giai đoạn đào tạo tiếp theo, có hướng nghiên cứu thích hợp để phát triển ở đào tạo sau và trên đại học. Kinh nghiệm những năm qua của trường Đại học Kiến trúc Hà Nội cho thấy những sinh viên có đề tài nghiên cứu hình thành từ đại học đến thạc sĩ, rồi Phó tiến sĩ, Tiến sĩ thì công việc được thuận và kết quả cao hơn.
Về phương tiện dạy và học kiến trúc, chúng ta còn chậm so với các nước không phải ở trang thiết bị mà là ở việc khai thác các trang thiết bị đó. Mặc dù trong những năm qua, trường Đại học Kiến trúc Hà Nội đã trang bị được nhiều thiết bị đa dạng và hiện đại, song thói quen dạy chay, học chay còn tồn tại nhiều, phim đèn chiều, máy chiếu hắt, máy chiếu hình, máy vi tính… còn ít CBGD sử dụng, sinh viên còn quen chép bài tại lớp với tốc độ chậm, chưa quen được giới thiệu bằng các thiết bị nghe nhìn và học, đọc thêm tại nhà hoặc thư viện. Ở đây vấn đề không phải là khó khăn về kinh phí (bởi vì chuẩn bị bài giảng bằng các phương tiện trên không phải là khó và tốn kém) mà cần xây dựng thói quen, phương pháp dạy và học bằng các phương tiện nghe nhìn (kể cả chiếu phim). Phòng thiết bị nghe nhìn này không chỉ có các máy móc vài người vận hành nó, mà phải có cả một bộ máy sưu tầm, xây dựng, quản lý và khai thác các nội dung nêu trên, hoặc từng bộ môn, cá nhân CBGD có trách nhiệm tự tìm tòi, xây dựng cho chính bản thân bộ môn, cá nhân mình.
Với một vài suy nghĩ, không mang tính chất tổng kết hay đánh giá, đề xuất cụ thể, nhưng là những suy nghĩ tâm huyết của một CBGD với nhiều năm trong nghề và được tiếp xúc với nhiều phương pháp dạy và học khác nhau. Tôi xin nêu lên một số vấn đề trên để cùng trao đổi, phần nào góp phần xây dựng một phương pháp dạy và học kiến trúc phù hợp của chúng ta trong giai đoạn mới với các yêu cầu mới.
PTS. KTS. Nguyễn Khắc Sinh – Xây Dựng/ Bộ xây dựng – Hà nội – số 35 -1998

Bà con quê hương Đồng Hới

Nhưng tôi bị cảm nên không về được, anh về một mình, lo chu tất mọi việc. Tuy bề bộn công việc nhưng những khi về gia đình anh cũng hay đùa nhộn với vợ và con cháu. Anh kể những chuyện tiếu lâm làm cả nhà cười vỡ cả bụng. Tiếng cười của Anh lạc quan và sảng khoái lắm. Anh ít khi ở nhà ngày chủ nhật, nếu được ở nhà Anh hay tìm việc làm để giúp tôi. Xuất thân là công nhân ngành điện, rồi đi học kỹ sư cơ khí khoa I, anh giỏi về những việc của người đàn ông trong gia đình, lúc thì lau dầu, sửa xe đạp cho tôi và các con, lúc thì sửa khóa, quạt điện, ti vi… Việc gì Anh cũng tỉ mỉ và chu đáo. Các con tôi cũng rất thương và phục ba trong những việc lặt vặt này. Anh nói: “ Ở cơ quan căng thẳng đầu óc rồi, về nhà làm những công việc này cho thư giãn”. Anh là con người năng động, ham làm mọi việc. Khi còn làm việc, kể từ lúc trai trẻ đến khi lớn tuổi, cả nhà ít khi được cùng nghỉ phép để về quê nội, ngoại. Hầu như anh không nghỉ phép qua những năm dài công tác. Khi đi công tác xa, anh cũng không kết hợp đưa vợ con đi dù cùng xuôi một chuyến đường. Bà con quê hương Đồng Hới, Quảng Bình lúc nào cũng nhắc đến, vì có một người con đi xa xứ mà làm lớn. Tuy vậy lúc nào về Quảng Bình làm việc, anh cũng dành thời gian về thắp hương tổ tiên và ghé thăm bà con thân thuộc, thăm ủy ban nhân dân phường. Và các anh ở cơ sở địa phương cũng thường đến thăm Anh để xin ý kiến. Tôi nhớ mãi tháng 7 năm 1996, sau khi ra viện, tôi khuyên Anh đi nghỉ một đợt dưỡng bệnh. Tôi cùng đi với Anh vào Nha Trang ra Đà Nẵng rồi vào thăm khu công nghiệp Dung Quất, vừa nghỉ ngơi vừa làm việc với địa phương. Đó là lần đầu và cũng là lần cuối cùng anh về thăm ủy ban nhân dân huyện Quế Sơn, quê hương tôi, chụp ảnh kỷ niệm trước trụ sở ủy ban. Cùng đi có anh Hường lúc ấy là trưởng ban tổ chức chính quyền tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng. Đấy! Nhân tâm Anh sống như vậy đó với vợ con. Và đối với bạn bè, đồng nghiệp anh chị em cấp dưới quyền Anh cũng vậy. Nhiều bài thơ, bài báo, thư từ của bạn bè gửi đến cho Anh mà tôi đã lưu giữ đều nói lên đức độ của anh, khi sinh thời anh đã sống hết mình với mọi người, đồng nghiệp, đồng chí và những người thân trong gia đình và dòng tộc….
Triều Đương – xây dựng/Bộ xây dựng – Hà nội –1998

Cố vấn Đỗ Mười về thăm và làm việc tại Bộ xây dựng

Bộ trưởng Bộ xây dựng trao huy chương vì sự nghiệp xây dựng cho Đồng chí Đỗ Mười
Cả ngày 17 – 11 – 1998 tại cơ quan Bộ xây dựng, đồng chí Đỗ Mười, cố vấn Ban chấp hành Trung ương Đảng đã về thăm và làm việc xoay quanh vấn đề xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở. Đông đủ các đồng chí trong Ban cán sự đảng Bộ xây dựng, Đảng ủy cơ quan, thủ trưởng và Bí thư chi bộ các cơ quan chức năng thuộc khối cơ quan Bộ đã dự.
Cố vấn Đỗ Mười, nguyên Bộ trưởng Bộ xây dựng (1973 – 1978) trong nhiều năm giữ các cương vị lãnh đạo của Đảng, Chính phủ như Chủ tịch HĐBT, Thủ tướng Chính phủ, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam đều luôn luôn quan tâm, chăm sóc và theo dõi, chỉ đạo chặt chẽ mọi hoạt động của ngành Xây dựng. Nhiều công trình trọng điểm của đất nước qua các thời kỳ đều được đồng chí đến thăm, kiểm tra, nhiều chương trình về xây dựng, phát triển, các lĩnh vực quy hoạch, kiến trúc, công nghiệp Vật liệu xây dựng, đào tạo cán bộ, nhà ở, nước sinh hoạt cho nhân dân… được đồng chí cho ý kiến xác định.
Trong không khí dân chủ, cởi mở của cuộc làm việc mang tính chất đối thoại, cố vấn Đỗ Mười lắng nghe báo cáo của Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Kiểm, của thủ tướng và bí thư chi bộ các cơ quan, đơn vị như Vụ kế hoạch – Thống kê, Vụ chính sách xây dựng, Trường Đại học Kiến trúc, Cục quản lý nhà… về vai trò lãnh đạo của tổ chức đảng, trực tiếp là các chi bộ cơ sở trong việc triển khai quy chế thực hiện dân chủ ở cơ quan nhằm phát huy quyền làm chủ của cán bộ, công chức, các quy định thực hiện quy chế, mối quan hệ giữa chi bộ với thủ trưởng cơ quan và việc kiểm tra thực hiện nhiệm vụ, kiểm tra chính sách, kiểm tra tài chính ở các cơ quan.
Cố vấn Đỗ Mười đã dành nhiều thời gian trong ngày nói chuyện với cán bộ lãnh đạo cơ quan Bộ xây dựng, nhấn mạnh vai trò tổ chức đảng trong cơ quan, kinh nghiệm và phương pháp thực hiện dân chủ ở cơ sở, cơ quan, vị trí người thủ trưởng và cơ quan tham mưu hoạch định chính sách gắn với việc điều hành, chỉ đạo, thực hiện nhiệm vụ đặc biệt là vấn đề nhà ở đô thị và nước sạch nông thôn cho dân… Cán bộ, đảng viên phải gương mẫu, liêm khiết, sống chủ yếu bằng lao động của mình, chăm lo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ và đời sống người lao động.
PV – Xây Dựng/ Bộ xây dựng – Hà nội – số 35 -1998

NOVA – TDN – Chương trình thiết kế đường bộ theo tiêu chuẩn Việt Nam

Nova – TDN – Chương trình thiết kế đường bộ theo tiêu chuẩn Việt Nam hoặc AASHTO phát triển trên nền ngôn ngữ lập trình Visual C++ và công nghệ hướng đối tượng, hoạt động trong môi trường AutoCAD R14. Nova – TDN – sản phẩm liên kết giữa công ty tin học Hài Hòa và Hãng ViaNova của Nauy. Với Nova – TDN các nhà thiết kế có thể thực hiện công tác thiết kế từ lựa chọn phương án khả thi tới thiết kế kỹ thuật một cách nhanh chóng và hiệu quả. Một số chức năng chính của chương trình:
Nhập số liệu thiết kế:
Nhập số liệu thiết kế nhằm mục đích xây dựng mô hình dùng cho các bước thiết kế tiếp theo. Mô hình địa hình có thể là:
Bản đồ địa hình được thể hiện bằng các đường đồng mức mà ta có thể đưa vào bằng Digitizer hay là các đường đồng mức có sẵn được thể hiện ở dạng 3D. Từ đó sẽ được suy ra mô hình điểm.
Các điểm đo chi tiết và các điểm số liệu toàn đạc.
Trên cơ sở các điểm đo Nova – TDN sẽ xây dựng mô hình lưới bề mặt tự nhiên và vẽ đường đồng mức.
Vẽ mặt bằng hiện trạng và thiết kế bình độ tuyến:
Từ số liệu đo ta có thể thể hiện được mặt bằng hiện trạng của khu vực. Trên cơ sở mô hình địa hình được thiết lập vạch các đường tim tuyến khác nhau của con đường thiết kế nhằm chọn được các phương án tối ưu hoặc là thiết kế bằng chọn được các phương án tối ưu hoặc là thiết kế nhiều tuyến cùng một lúc. Nova – TDN tự động phát sinh các cọc và các điểm mà theo yêu cầu. Các số liệu được tự động phát sinh có thể hiệu chỉnh của một cách dễ dàng hoặc là bổ sung thêm cho phù hợp với số liệu địa hình. Nova – TDN cho phép thiết kế các đường cong chuyển tiếp hoặc không chuyển tiếp có siêu cao hoặc không có siêu cao. Kiết xuất kết quả phục vụ cho việc xác định tuyến ngoài hiện trường.
Thiết kế trắc dọc, trắc ngang:
Khi tuyến dài nhiều cây số, Nova – TDN cho phép tách trắc dọc ra nhiều đoạn khác nhau trong cùng 1 bản vẽ. Mẫu biểu bảng trắc dọc và trắc ngang có thể tùy ý thay đổi cho phù hợp với bảng biểu của cơ quan hoặc theo yêu cầu của nhiệm vụ thiết kế. Trắc ngang có thể sắp xếp cho vừa khổ giấy cần xuất ra. Nova – TDN cho phép thiết kế 3 phương án đường đỏ để nhằm chọn được phương án tối ưu theo khối lượng đào đắp trên cơ sở mầu trắc ngang thiết kế chuẩn đã khai báo.
Đối với đường trong nội thị Nova – TDN cho phép thiết kế các giếng thu nước.
Trên trắc dọc Nova – TDN cho nhập bề dày của các lớp địa chất để có thể tính toán khối lượng đào của từng lớp. Trên trắc ngang mặt cắt sẽ được tự động xác định theo độ dốc siêu cạo và mở rộng lề nếu cắt ngang nằm trong đoạn có bố trí siêu cao và có mở rộng. Các cao độ cắt ngang sẽ bám theo các cao độ thiết kế của từng phương án. Khi thay đổi phương án đường đỏ các mặt cắt thiết kế trắc ngang sẽ tự động thay đổi theo phù hợp với cao độ của phương án đường đỏ hiện hành.
Tính toán và lập khối lượng đào đắp:
Vova – TDN cho phép xác định gần 70 loại diện tích. Trên cơ sở các loại diện tích này người sử dụng có thể tổ hợp lại bằng cách xây dựng các công thức tính sao cho phù hợp với yêu cầu diện tích cần xuất ra. Ngoài ra khi điền các loại diện tích theo công thức tính trên các trắc ngang và qua hiệu chỉnh có thể xuất ngược lại bảng tổng khối lượng.
Vẽ đường bình đồ và dựng phối cảnh mặt đường cùng cảnh quan địa hình:
Nova – TDN, cho phép thể hiện đường đồng mức của mô hình thiết kế điểm. Dựng phối cảnh mặt đường thiết kế và bề mặt tự nhiên cùng cảnh quan hiện trạng.
PV – Xây Dựng/ Bộ xây dựng – Hà nội – số 34 -1998