Nghiêm cấm lợi dụng thuế giá trị gia tăng để đầu cơ tăng giá

(XD) Ngày 8 – 1 – 1999, Ban vật giá Chính phủ có công điện số 44/VGCP yêu cầu các Bộ, Tổng cục chỉ đạo các Tổng công ty công bố bảng giá hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục Nhà nước định giá bao gồm: giá chưa có thuế giá trị gia tăng và giá có thuế giá trị gia tăng (giá thanh toán đối với người mua, người bán). Giá do Nhà nước quy định là giá đã bao gồm cả thuế giá trị gia tăng và giữ bình ổn ở mức giá cuối năm 1998, không điều chỉnh tăng giá 6 tháng đầu năm 1999. Hàng hóa, dịch vụ doa doanh nghiệp định giá phải xác định giá bán hợp lý theo nguyên tắc giữ mức giá đã được hình thành trên thị trường cuối năm 1998.
Nghiêm cấm các doanh nghiệp lợi dụng thực hiện Luật thuế giá trị gia tăng để đầu cơ tăng giá thu lời bất hợp pháp.
Tiếp tục là bộ đội cụ Hồ
Sau kết thúc chiến tranh hoặc sau khi hoàn thành vụ quân sự, những người lính được trở về hậu phương, vào các cơ quan, doanh nghiệp trường học… tiếp tục làm nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Hàng triệu cán bộ, chiến sĩ rời quân ngũ đã và đang tiếp tục, cống hiến sức lực, trí tuệ trong công tác, lao động sản xuất, mang theo bản chất “Anh bộ đội cụ Hồ”: trung thực, dũng cảm, tận tụy, quên mình và đoàn kết, thẳng thắn đấu tranh vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh.
Chất lính của những cựu chiến binh Việt Nam là chất thép, chất trí tuệ và cách mạng, thể hiện trong thế tấn công, lòng dũng cảm, sức sáng tạo và không ngừng đổi mới. Những tập thể lao động có được đội ngũ các cựu chiến binh như có thêm sức mạnh về đoàn kết, gương mẫu trong hành động và đi đầu trong việc hoàn thành nhiệm vụ. Một ví dụ: chỉ riêng cơ quan Bộ xây dựng ở các cục, vụ, văn phòng… đã có ngót một trăm cựu chiến binh, 70% trong số đó là đảng viên, nhiều anh em là cán bộ chủ trì cơ quan, nhiều người là chuyên viên đảm nhiệm các khâu quan trọng của dây chuyền công nghệ chất xám ở cơ quan quản lý nhà nước. Một số là nhân viên phục vụ, lái xe, bảo vệ nhưng rất mực trung thành, tận tâm tận lực của công việc.
Phẩm chất BỘ ĐỘI CỤ HỒ sáng mãi, bền vững trong mỗi cựu chiến binh. Có thể họ vừa là một phần của cốt thép, vừa là phụ gia của mỗi công nhân xây dựng trong một tập thể đơn vị, cơ quan.
PV – Xây Dựng/ Bộ xây dựng – Hà nội – số 40 -1998

Công trình với kỹ thuật cách âm mới

Một tổ hợp 47 căn nhà được xây dựng ở quận 8 thành phố Lyon (Pháp) sử dụng thử nghiệm kỹ thuật cách âm mới theo tiêu chuẩn cách âm ban hành năm 1994. So với những quy phạm đầu tiên năm 1969, mức âm thanh cho phép giảm đi tiếng động va chạm giảm 6 lần, những âm thanh khác như tiếng ồn, nói chuyện, vi ti giảm được một nửa. Phương pháp được dùng cho tổ hợp là do trung tâm kỹ thuật công trình (CSTB) đưa ra, khẳng định sẽ đạt được những tiêu chuẩn mới này mà chỉ sử dụng những vật liệu rẻ tiền:
Sàn bằng bê tông trải phủ vải nhựa hoặc nhựa tổng hợp.
Mặt tường bê tông kép (2 lớp) bằng hỗn hợp nhựa tổng hợp không thấm, thạch cao và những ống rỗng 10 cm bọc ống ghen. Tuy nhiên, nhược điểm phương pháp này là tốn diện tích. Công trình mất 20 mét vuông trên toàn bộ mặt bằng để đạt được sự yên tĩnh này. Và cũng không nên tin rằng, lúc nào trong căn hộ cũng có một không gian hoàn toàn tĩnh lặng.
Bạn nên mua PC như thế nào?
Để tránh lãng phí và đầu tư một cách có hiệu quả nhất, đặc biệt khi các công việc của bạn không đơn thuần chỉ là soạn thảo văn bản, tạo các bảng tính đơn giản mà còn được sử dụng cho vẽ thiết kế hoạc các công việc đồ họa cao cấp, có lẽ khi đó bạn cần phải được tư vấn phù hợp với thực tế công việc và tình hình tài chính của mình trước khi trang bị các thiết bị máy vi tính. Trong loạt các bài viết trước chúng tôi đã giới thiệu cho người sử dụng các kiến thức phổ thông về các thiết bị của máy tính, ở bài viết này chúng tôi xin được giới thiệu một số điều cần chú ý khi bạn mua máy vi tính phục vụ cho công việc của mình. Hiện nay, trên thị trường thiết bị tin học xuất hiện đủ loại máy vi tính, máy in và các thiết bị ngoại vi rất phong phú, dễ làm người mua lúng túng khi chọn lựa. Trước tiên bạn phải cần xác định ngay là không nên mua các loại máy có bộ vi xử lý (VXL) 386 hoặc 486… Vì các lý do rất đơn giản: Hầu hết các phần mềm thông dụng hiện nay hầu như chạy rất chậm thậm chí không chạy nổi trên các thế hệ đó và giá cả các máy tính thế hệ mới cũng không phải là đắt. Tại thời điểm hiện tại, có lẽ máy Pentium 586 là giải pháp tốt nhất, với dung lượng đĩa cứng thông dụng là 1,6 – 3,2 GB tùy theo nhu cầu lưu trữ nhiều hay ít. Thiết bị cần được quan tâm đầu tiên đó là bộ Vi xử lý. Hiện nay, các bộ vi xử lý thông dụng là 586 của hãng Intel với tốc độ 200 MHz trở lên. Bạn nên chọn các công ty có uy tín và chế độ bảo hành tốt để mua máy tính, vì hiện tại trên thị trường có rất nhiều loại bộ vi xử lý giả hay còn gọi là Remark. Remark được tạm hiểu như là một kỹ thuật làm lại những bộ vi xử lý cũ có tốc độ chậm thành những bộ vi xử lý có tốc độ xử lý cao. Kỹ thuật Remark chỉ có thể thực hiện rất khó khăn, ngay cả đối với các chuyên gia có kinh nghiệm cũng khó biết khi chỉ nhìn bên ngoài vì nếu bạn có test trên máy tính, bộ vi xử lý bị Remark vẫn hiển thị tốt và chạy bình thường.
PV – Xây Dựng/ Bộ xây dựng – Hà nội – số 40 -1998

Tiếp tục là “Bộ đội cụ Hồ”

Sau kết thúc chiến tranh hoặc sau khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự, nhưng người lính được trở về hậu phương, vào các cơ quan, doanh nghiệp trường học… tiếp tục làm nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Hàng triệu cán bộ, chiến sĩ rời quân ngũ và đang tiếp tục, cống hiến sức lực, trí tuệ trong công tác, lao động sản xuất, mang theo bản chất “Anh bộ đội cụ Hồ”: trung thực, dũng cảm, tận tụy, quên mình và đoàn kết, thẳng thắn đấu tranh vì dân giàu, nước mạnh, xã hôi công bằng văn minh.
Chất lính của những cực chiến binh Việt Nam là chất thép, chất trí tuệ và cách mạng, thể hiện trong thế tấn công, lòng dũng cảm, sức sáng tạo và không ngừng đổi mới. Những tập thể lao động có được đội ngũ các cựu chiến binh như có thêm sức mạnh về đoàn kết, gương mẫu trong hành động và đi đầu trong việc hoàn thành nhiệm vụ. Một ví dụ: chỉ riêng cơ quan Bộ xây dựng ở các cục, vụ, văn phòng… đã có ngót một trăm cựu chiến binh, 70% trong số đó là đảng viên, nhiều anh em là cán bộ chủ trì cơ quan, nhiều người là chuyên viên đảm nhiệm các khâu quan trọng của dây chuyền công nghệ chất xám ở cơ quan quản lý nhà nước. Một số là nhân viên phục vụ, lái xe, bảo vệ nhưng rất mực trung thành, tận tâm tận lực công với công việc.
Phẩm chất BỘI ĐỘI CỤ HỒ sáng mãi, bền vững trong mỗi cựu chiến binh. Có thể ví họ vừa là một phần của cốt thép, vừa là phụ gia của mỗi công trình xây dựng trong một tập thể đơn vị, cơ quan.
Tin đọc nhanh
Thủ tướng Chính phủ đã ra Chỉ thị số 41/1998 CT – TTg yêu cầu các bộ, ngành, địa phương thành lập ngay ban chỉ đạo thực hiện các luật thuế mới để phổ biến, quán triệt, chỉ đạo giải quyết khó khăn, vướng mắc, xây dựng và thực hiện các biện pháp ổn định giá cả, không làm ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh ra đời sống nhân dân.
Ban Vật giá Chính phủ vừa có quyết định về giá bán điện chưa có thuế giá tị gia tăng theo đó từ 1 – 1 – 1999 đối với điện sinh hoạt giá bán tại công tơ từng bộ sử dụng là 455đ/ KWh cho 100 số đầu; 591 đồng cho 50 số tiếp theo và 810 đồng cho 100 số tiếp và 1.136 đồng trên 300 số.
Theo số liệu điều tra, đến 30 – 6 – 1998 cả nước có 1.264.070 cán bộ, công chức hành chính sự nghiệp, tăng 135.053 người so với năm 1994, tốc độ tăng bình quân 3%/ năm.
Theo Nghị định 100/NĐ – CP, từ 1 – 1 – 1999, Ngân hàng Nhà nước không được góp vốn mua cổ phần của các tổ chức tín dụng hoặc các doanh nghiệp.
Kết quả điều tra lao động việc làm năm 1998 cho thấy tỷ lệ lao động thất nghiệp ở khu vực thành thị là 6,85% (so với số dân trong độ tuổi lao động kinh tế) tăng 0,84% so với năm 1997.
XD – Xây Dựng/ Bộ xây dựng – Hà nội – số 40 -1998

Tự động bán đấu giá tài sản sẽ dễ xảy ra tiêu cực

Là một trong những Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản (TTDVBĐGTS) đầu tiên của cả nước, Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản thành phố Hồ Chí Minh ra đời hơn 8 tháng nay, với chức năng nhận hợp đồng ủy quyền bán đấu giá tài sản của các cơ quan thi hành án, cấc tổ chức và cá nhân có nhu cầu trên địa bàn. Đây là một lĩnh vực còn khá mới, để độc giả hiểu thêm về dịch vụ này, phóng viên tuần báo Xây dựng đã có cuộc trao đổi với ông Lê Hoài Trung, Phó giám đốc Sở tư pháp, kiêm giám đốc Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản thành phố Hồ Chí Minh.
Phóng viên: Xin ông cho biết thủ tục, quy trình thực hiện một cuộc bán đấu giá tài sản?
Trả lời: Sau khi khách hàng ký hợp đồng ủy quyền bán đấu giá tài sản, trung tâm sẽ đăng ký công khai ghi rõ tài sản giá khởi điểm. Nếu là bất động sản hoặc tài sản có giá trị trên 10 triệu đồng thì phải đăng báo 2 lần, mỗi lần cách nhau 3 ngày. Người nào muốn mua đấu giá, phải đặt cọc trước 1% so với giá khởi điểm. Sau 30 ngày đối với bất động sản, sau 7 ngày đối với động sản thì bắt đầu tổ chức cuộc đấu giá nếu có từ 2 người trở lên đăng ký mua. Theo quy định, người mua phải trả bằng hoặc cao hơn giá khởi điểm, vì theo Nghị định 86/CP của Chính phủ, tất cả người mua đều trả thấp hơn so với giá khởi điểm, thì cuộc bán đấu giá sẽ không thành. Khi cuộc đấu giá thành nhưng người trúng đấu giá không chịu nộp tiền mua tài sản thì người đó mất tiền đặt trước và mọi chi phí khác. Trường hợp do giá đưa ra ban đầu cao mà không có người đăng ký mua thì bên ủy quyền sẽ giảm giá, trung tâm tiếp tục thông báo bán đấu giá lại, qua 2 – 3 lần, tài sản bán không được, trung tâm thanh lý hợp đồng với bên ủy quyền. Nếu cuộc đấu giá thành, trung tâm chịu trách nhiệm làm thủ tục chuyển quyền sở hữu cho người bán (người bán tài sản chịu lệ phí đấu giá, công chứng tiền thuê chuyển quyền sử dụng đất, tiền sử dụng đất nếu có; người mua chịu lệ phí trước bạ, đăng bộ).
Phóng viên: Lệ phí được tính toán thế nào ở các trường hợp: cuộc đấu giá thành; tài sản không bán được; và tiền đặt trước của người không trúng đấu giá, thưa ông?
Trả lời: Trước hết, chúng tôi sẽ trả lại ngay tiền đặt trước cho khách hàng nào không trúng đấu giá. Đối với cuộc đấu giá thành, trung tâm được quyền thu mức lệ phí của chủ tài sản như sau: Từ 1 triệu đồng trở xuống thu 50.000 đồng; trên 1 triệu đồng đến 100 triệu đồng, hưởng 5% giá trị tài sản bán được; trên 100 triệu đồng đến 1 tỷ đồng hưởng 2%; trên 1 tỷ đồng hưởng 20 triệu đồng cộng với 0,2% của phần vượt quá 1 tỷ đồng. Cuối cùng, nếu tài sản không bán được, lệ phí thu bằng 50% so với mức quy định trên, nhưng tối đa không quá 30 triệu đồng. Tuy nhiên, trường hợp này chỉ thu được ở các tổ chức, cá nhân, còn với các cơ quan thi hành án thì bán được tài sản mới thu lệ phí.
Phóng viên: Kết quả hoạt động và những khó khăn của Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian qua?
Trả lời: Tính đến thời điểm này, trung tâm đã ký được 235 hợp đồng của các đơn vị thi hành án, các tổ chức, cá nhân (trong đó gần 90% hợp đồng của các đơn vị thi hành án) với tổng giá trị tài sản hơn 400 tỷ đồng (phần lớn là đất đai, nhà cửa). Chúng tôi đã thực hiện được 88 cuộc đấu giá thành, với tổng giá trị tài sản trên 44 tỷ đồng và bán chênh lệch so với giá khởi điểm được khoảng 4,7 tỷ đồng. Sở dĩ tiến độ chậm là vì trung tâm gặp một số trở ngại nhất định như thủ tục sang tên đối với những loại tài sản chưa hợp thức hóa chủ quyền về nhà ở, đất ở còn khó khăn, vì phải do thẩm quyền của Ủy ban nhân dân thành phố và Sở địa chính – nhà đất quyết định. Nhiều khách hàng muốn mua khách sạn RIVER SIDE trị giá 53 tỷ đồng (đây là đồng lớn của trung tâm) nhưng quy định người mua được phải trả tiền thuê đất cho Nhà nước, làm mọi người rút lui và trung tâm buộc phải thanh lý hợp đồng trên. Hiện nay, vẫn còn nhiều người trúng thầu giá, nhưng vì nhiều lý do họ tự động bỏ không mua tài sản đó nữa. Để hạn chế việc này, chúng tôi kiến nghị nên tăng tiền đặt trước lên từ
3 – 5%, thay vì 1% như hiện nay. Chính phủ thì chỉ có Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản của Sở tư pháp của tỉnh, thành (trực thuộc Trung ương) mới được quyền bán đấu giá tài sản, thế nhưng vẫn còn nhiều đơn vị, cơ quan tự đứng ra tổ chức bán đấu giá, tình trạng này dễ xảy ra tiêu cực! Sắp tới, Hội nghị chuyên đề về Bán đấu giá tài sản được tổ chức ở phía Nam, chúng tôi sẽ đề xuất nên sớm có thông tư liên Bộ: Tư pháp, Xây dựng, Tài chính, Tổng cục địa chính để cho hoạt động bán đấu giá tài sản ngày càng có hiệu quả và thu hút được nhiều khách hàng hơn.
Phóng viên: Xin cảm ơn ông.
Lê Minh Hùng – Xây Dựng/ Bộ xây dựng – Hà nội – số 40 -1998

Địa chất môi trường trong sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội, bảo vệ môi trường

Mấy năm qua chúng tôi đã triển khai với nhịp độ cao một lĩnh vực nghiên cứu mới, đó là nghiên cứu mới, đó là nghiên cứu các chương trình và dự án về địa chất môi trường (ĐCMT), với mục tiêu đánh giá hiện trạng, dự báo khuynh hướng phát triển của các tác động địa chất, đưa ra các giải pháp hữu hiệu để bảo vệ môi trường, phát triển bền vững, giảm thiểu tai biến địa chất và sức khỏe cộng đồng.
Những công việc đã và đang làm, cùng với những định hướng nghiên cứu địa chất môi trường từ nay tới năm 2010 chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực sau đây:
Địa chất môi trường các đô thị Việt Nam
Sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội và mật độ dân số chủ yếu phát triển mạnh, tập trung ở đô thị (thành phố, thị xã tỉnh lỵ). Những khu vực này có mức độ tăng trưởng cao của các ngành công nghiệp, thương mại, du lịch, dịch vụ, văn hóa – thể thao… Vì thế, sự biến động về địa chất và tác động của con người diễn ra hết sức mạnh mẽ. Đó là việc khai thác tài nguyên khoáng sản, nước ngầm, thi công các công trình giao thông, xây dựng… đã làm biến vị mạnh bề mặt trái đất. Lượng chất thải rắn và lỏng ở các đô thị rất cao (vào khoảng 0,5 – 0,8 kg/ người/ ngày chất thải rắn và nhiều hơn thế về số lượng nước thải công nghiệp và sinh hoạt…).
Kết quả điều tra đại chất môi trường cho phép thành lập loạt bản đồ địa chất đô thị như: bản đồ địa chất và khoáng sản, địa mạo – tân kiến tạo và động lực hiện tại, địa chất thủy văn, địa chất công trình, các trường địa vật lý (xạ, từ trường, điện trở đất), bản đồ nồng độ vi lượng trong đất, bản đồ hiện trạng ô nhiễm các nguồn nước… Nhưng, quan trọng hơn cả là bản đồ địa chất môi trường (ĐCMT) và bản đồ định hướng sử dụng mặt bằng đô thị.
Điều tra địa chất môi trường đô thị giải đáp các vấn đề: Đặc điểm địa chất và cấu trúc nền đất; khả năng khai thác sử dụng hợp lý tài nguyên khoáng sản, quy hoạch khai thác nước ngầm; các biểu hiện ô nhiễm và tai biến địa chất. Cho đến nay đã hoàn tất công việc điều tra địa chất môi trường ở 70% các đô thị trong toàn quốc.
Nghiên cứu hiện trạng ô nhiễm nước
Nước là vấn đề thiết yếu cho sức khỏe cộng đồng và các yêu cầu sản xuất. Do nhiều tác động tự nhiên và hoạt động của con người nên hầu khắp các nguồn nước đều bị ô nhiễm. Những năm qua, việc nghiên cứu hiện trạng ô nhiễm nước đã được triển khai khá tích cực. Ở chừng mực nhất định, việc nghiên cứu ô nhiễm nước đã được thực hiện trên điện tích rộng thuộc các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, đồng bằng Nam Bộ, đới duyên hải và vùng cao nguyên Trung Trung bộ. Nguyên nhân của ô nhiễm nước là sự xâm nhập của nước biển, nước thải đô thị và các khu công nghiệp, phân bón và thuốc trừ sâu, ảnh hưởng chất độc hóa học trong chiến tranh… Ngoài những nguyên nhân bên ngoài, một số nguồn nước ngầm còn bị ô nhiễm do các quá trình địa chất và khai thác mỏ. Ví dụ: Sự thiếu nồng độ I ốt dẫn tới bướu cổ và đần độn; thừa fluo dẫn tới các bệnh về xương; nồng độ cao của U, Cu, Pb, Zn, một số độc tố như As, Hg… gây các bệnh về ung tiêu hóa… Đồng thời, sự thừa hoặc thiếu vi lượng đã ảnh hưởng tới chất lượng và năng lượng và năng suất cây trồng, vật nuôi.
Các biểu hiện tai biến địa động lực
Nước ta nằm trong vùng nhiệt đới, nóng ẩm, mưa nhiều và mưa theo mùa, thảm thực vật rừng đã bị tàn phá mạnh, quá trình du canh, du cư, khai hoang đất rừng… đã dẫn tới nhiều biến động bề mặt. Vì thế, các biểu hiện địa chất tai biến về xói lở và bồi lắng các vùng cửa sông ở ven biển, di chuyển gió, ngập úng – lũ lụt, bào mòn bề mặt, các dòng bùn, đá, nứt đất, sụt lún phá hủy công trình… diễn ra khá thường xuyên.
Các tương tác giữa đá và nước
Tương tác giữa đá và nước đặc biệt diễn ra mạnh mẽ ở vùng nhiệt đới ẩm và vành đai tiếp xúc giữa biển và đất liền. Những quá trình tương tác đá và nước dẫn tới muối hóa, phèn hóa, lầy hóa… hình thành nên một số khoáng chất ngoại sinh như soda, bentonit, sét… Đồng thời làm biến vị hình thái và bản chất các thực thể địa chất, bất lợi cho việc phát triển kinh tế và cuộc sống cộng đồng. Do đó, cần nghiên cứu đánh giá khả năng khai thác sử dụng một số yếu tố trong địa chất môi trường như nước khoáng thiên nhiên, các nguồn địa nhiệt để phát triển năng lượng, các thành tạo hang động và địa chất du lịch; đánh giá tác động môi trường ở các vùng hồ chứa nước, đập thủy điện, khu chế xuất.
Việc nghiên cứu đánh giá tác động môi trường trên cơ sở quan trắc, sự biến động của các yếu tố theo thời gian và không gian. Trên cơ sở đó, đề xuất những giải pháp nhằm khai thác các khuynh hướng có lợi và hạn chế các rủi ro có thể xảy ra.
Nhìn chung, việc nghiên cứu địa chất môi trường mới ở giai đoạn đầu, còn nhiều việc phải làm. Vì thế, cần có sự đầu tư của Nhà nước về đào tạo cán bộ, mua sắm thiết bị kỹ thuật và triển khai thực hiện.
Thế kỷ 21 với mục tiêu chung là hướng tới sự phát triển bền vững, giảm thiểu các thảm họa, khai thác sử dụng tài nguyên một cách hợp lý và có hiệu quả nhất. Cho nên, việc triển khai các hướng nghiên cứu địa chất môi trường là hết sức bức thiết và là khuynh hướng tất yếu.
PTS. Hồ Vương Bính – Xây Dựng/ Bộ xây dựng – Hà nội – số 39 -1998

Chuỗi đô thị Miếu Môn – Xuân Mai – Hòa Lạc – Sơn Tây

Miếu Môn – Xuân Mai – Hòa Lạc – Sơn Tây là chuỗi đô thị vệ tinh của thủ đô Hà Nội, được xây dựng với mục tiêu phát triển thành khu vực tăng trưởng kinh tế quan trọng của quốc gia. Khu vực đô thị này sẽ là trung tâm đào tạo, nghiên cứu khoa học – công nghệ của cả nước, trung tâm công nghiệp tập trung kỹ thuật cao và công nghiệp quốc phòng, đồng thời sẽ là vùng du lịch, nghỉ dưỡng, văn hóa quốc gia có vị trí quan trọng về an ninh quốc phòng.
Chuỗi đô thị này được bố trí dọc hai bên quốc lộ 21A, có diện tích 17.000 ha trên một vùng đất đồi rất thuận lợi cho việc xây dựng các đô thị lớn, văn minh hiện đại với quy mô dân số trên 1 triệu người vào năm 2020. Thành phố mới này được nối với thủ đô Hà Nội bằng tuyến đường cao tốc Làng – Hòa Lạc. Dự kiến quy mô dân số và sử dụng đất đai ở các thời kỳ như sau: Năm 2005 dân số 285 nghìn người, diện tích 6.000 ha; năm 2010 dân số 620 nghìn người, diện tích 11.000 ha. Năm 2020 dân số trên 1 triệu người, diện tích 17.000 ha.
Chuỗi đô thị vệ tinh này gồm có: Đô thị Miếu Môn là cảng hàng không và dịch vụ hàng không quốc tế, quy mô dân số 30.000 người với diện tích 1.600 ha vào năm 2020. Ngoài dịch vụ hàng không, nơi đây còn là trung tâm du lịch và khu nhà vườn quanh hồ Đồng Xương, phía tây hồ Văn Sơn là cụm xí nghiệp tiêu dùng và hệ thống công viên cây xanh. Đô thị Xuân Mai là trung tâm kinh tế công nghiệp – thương mại – dịch vụ tập trung và quốc phòng, có diện tích 2.500 ha với quy mô dân số 170.000 người vào năm 2020. Dự kiến sẽ bố trí cụm công nghiệp cơ khí, vật liệu xây dựng, sản xuất hàng tiêu dùng và kho tàng tại khu Thủy Xuân Tiên. Lớn nhất và quan trọng nhất trong chuỗi đô thị này là đô thị Hòa Lạc. Hòa Lạc là trung tâm kinh tế công nghiệp, du lịch, văn hóa, đào tạo, nghiên cứu khoa học công nghệ cao. Hòa Lạc còn là đầu mối giao thông và quốc phòng quan trọng. Quy mô dân số đến năm 2020 ở Hòa Lạc sẽ là 670.0000 người, diện tích 12.500 ha. Tại đây sẽ có khu công nghệ cao quanh hồ Tân Xã, khu đại học quốc gia ở núi Múc, làng văn hóa và khu du lịch Đồng Mô… Một hệ thống công viên cây xanh, lâm viên mặt nước trong đô thị kéo dài đến khu rừng quốc gia Ba Vì. Cuối cùng là đô thị Sơn Tây quy mô dân số 100.000 người diện tích 900 ha đô thị này bao gồm thị xã Sơn Tây cũ, khu đô thị Sơn Lộc, Xuân Khanh cùng với thành cổ, công viên, bảo tàng… tạo thành một đô thị có những nét lịch sử văn hóa riêng biệt.
Xây dựng chuỗi đô thị Miếu Môn – Xuân Mai – Hòa Lạc – Sơn Tây là việc làm lớn, đòi hỏi phải có thời gian, công sức và tài chính lớn ới các chính sách, cơ chế vận hành và bước đi vững chắc. Chính phủ đã yêu cầu các Bộ, ngành hữu quan khẩn trương xây dựng cơ chế, chính sách, đầu tư xây dựng thích hợp, các quy chế quản lý quy hoạch và xây dựng toàn chuỗi đô thị, huy động các nguồn lực trong nước và quốc tế, tạo các ưu đãi phù hợp với đặc thù của từng đô thị. Cơ sở hạ tầng phải đi trước một bước, việc hoạch định trước hệ thống hạ tầng đầu mối là hết sức cần thiết. Trước mắt, việc nâng cấp quốc lộ 6, quốc lộ 32 từ cấp III lên cấp I, nâng cấp quốc lộ 21A thành xa lộ và xây cầu vượt sông Hồng nối với quốc lộ 2 cần phải nhanh chóng triển khai. Đường cao tốc Hà Nội – Hòa Lạc – Ba Vì với 6 làn xe dài 48 km, tuyến đường sắt Hà Nội – Hà Đông – Miếu Môn – Xuân Mai – Lương Sơn – Hòa Bình và tuyến đường sắt Xuân Mai – Hòa Lạc – Ba Vì – Suối Hai là những công trình sẽ được hình thành sớm, khởi đầu đầy triển vọng của chuỗi đô thị MIÊU MÔN – XU N MAI – HÒA LẠC – SƠN T Y.
Ngô Văn Phước –Xây Dựng/ Bộ xây dựng – Hà nội – số 39 -1998

Phát triển điện nông thôn đến năm 2000 mục tiêu còn xa

Từ ny đến năm 2000, để đầu tư một cách hoàn chỉnh cho việc phát triển lưới điện nông thôn, cần một nguồn vốn khoảng 36.839 tỷ đồng. Trong khi đó, vốn khấu hao cơ bản của Tổng công ty điện lực Việt Nam dành cho điện nông thôn lại chỉ chiếm một phần rất khiêm tốn (khoảng 150 tỷ mỗi năm).
Từ thực trạng lưới điện nông thôn
Cho đến nay ở 61 tỉnh, thành phố có 455/490 huyện lỵ (chiếm 92,9%) hơn 6440/8860 xã (chiếm 72,8%) và trên 7/11 triệu hộ (chiếm 61,9%) được sử dụng điện lưới quốc gia. Nhìn vào số liệu tổng hợp chung là vậy, nhưng tình hình cấp điện cho nông thôn ở mỗi vùng, miền lại không đồng đều, có sự chênh lệch khá lớn. Tỉ lệ số hộ có điện ở nông thôn miền Bắc chiếm tới 74%, trong khi đó ở các tỉnh miền Đông Nam Bộ, đồng bằng sông Cửu Long chỉ là 42,4%, miền Trung 54,8%… Ngay như khu vực miền Bắc (không kể Hà Nội) thì các tỉnh đồng bằng đã có 85% số hộ có điện nhưng các tỉnh miền núi mới chỉ đạt 38% số hộ có sử dụng điện nguồn.
Một điều đáng chú ý là do hầu hết mạng lưới điện nông thôn nhiều năm qua xây dựng không theo quy hoạch, không bảo đảm tiêu chuẩn, yêu cầu kỹ thuật, lại không thường xuyên bảo dưỡng, bảo trì, cải tạo nên việc cung cấp điện thiếu ổn định, chất lượng thấp, tổn thất cao và không an toàn. Bên cạnh đó, cơ chế quản lý điện nông thôn chưa có sự thống nhất, thiếu chặt chẽ, dẫn đến nhiều mô hình quản lý khác nhau: tổ tư nhân thầu điện, tổ điện của xã, hợp tác xã và cả ngành điện lực cũng trực tiếp bán điện cho dân. Hơn nữa, do nguyên nhân về mặt kỹ thuật và quản lý mà giá điện người nông dân phải trả cớ nhiều mức khác nhau thường cao hơn nhiều so với giá bán quy định của Nhà nước. Cụ thể là trong tổng số xã có điện có hơn 36% số xã bán điện với giá 700 – 900 đồng/ KWh; trên 16% số xã bán quá mức 900 đồng/ KWh, số còn lại bán điện giá 450 – 700 đ/ KWh.
Đến những kiến nghị
Với mục tiêu đến năm 2000 bảo đảm 100% số huyện, lỵ có điện từ điện lưới quốc gia hoặc bằng nguồn điện tại chỗ, 80% số xã và 60% số hộ nông dân có điện sử dụng thì phải cần tới trên 36 nghìn tỷ đồng để xây mới, cải tạo mạng lưới điện (trong đó khoảng 23 nghìn tỷ đồng cho xây mới) trên 10 nghìn tỷ cho cải tạo, 2.558 tỷ đồng để đưa điện về các huyện và xây dựng các nguồn điện tại chỗ…). Nhưng ngành điện chỉ dành một phần nhỏ, khoảng 150 tỷ đồng mỗi năm vốn khấu hao cơ bản cho phát triển điện nông thôn, còn lại để đầu tư xây dựng cho các công trình nguồn điện và lưới điện truyền tải… Đáng chú ý là, trong số các huyện, xã dự tính sẽ được cung cấp điện từ nay đến năm 2000, hầu hết là ở vùng sâu, vùng xa, miền núi và hải đảo (trong số 35 huyện chưa có điện lưới có 9 huyện đảo và 26 huyện miền núi). Như vậy khó khăn sẽ càng lớn không chỉ về vốn mà cả về điều kiện tự nhiên ở các địa bàn này.
Rõ ràng, để thực hiện mục tiêu mà Đảng và Nhà nước đã đề ra, ngành điện cần một khối lượng vốn đầu tư rất lớn, huy động từ nhiều nguồn: vốn ngân sách, vốn ODA, vốn tín dụng đầu tư, đóng góp của các địa phương, nhân dân đóng góp… Để huy động được mọi nguồn lực, sử dụng hiệu quả các nguồn vốn đầu tư, nên chăng cơ chế đầu tư có thể theo hướng:
Đối với các đường dây trung thế, trạm biến áp và công tơ tổng của các nguồn sẽ do Tổng công ty điện lực Việt Nam đầu tư xây dựng mới hoặc cải tọa bằng nguồn vốn vay ngân sách, vốn khấu hao cơ bản hay vốn tín dụng ưu đãi, vốn tài trợ quốc tế theo các Hiệp định của Chính phủ. Để hỗ trợ cho việc đẩy nhanh tiến độ phát triển mạng lưới điện nông thôn cũng cần có mức ưu đãi về lãi suất trong các khoản vốn vay. Với lưới điện hạ thế giao cho các địa phương trực tiếp quản lý, đầu tư bằng nguồn vốn tín dụng ưu đãi và phụ thu tiền điện trong khu vực… Nhánh đường dây hạ thế từ trục đường chính vào các hộ do dân đầu tư. Riêng đối với các vùng miền núi, biên giới và hải đảo xa lưới điện quốc gia, Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ dân trong việc đưa đường dây điện thế tận nhà.
Để đẩy nhanh tiến độ, phát triển điện nông thôn, các địa phương cần có sự phối hợp chặt chẽ với ngành điện trong việc lập dự án xây dựng, huy động tối đa mọi nguồn lực, khuyến khích rộng rãi các thành phần kinh tế tham gia đầu tư và kinh doanh điện (trên cơ sở bán điện cho người dân với mức giá không vượt quá giá trần Nhà nước quy định và được hộ nông dân chấp nhận).
Với một số xã miền núi, hải đảo… mà đến năm 2000 vẫn chưa có khả năng đưa điện lưới về được nên chăng các địa phương cần phối hợp với ngành điện lập dự án xây dựng các trạm thủy điện nhỏ hoặc khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia kinh doanh điện nặng bằng các nguồn; diezel, nhiệt điện, điện bằng năng lượng mặt trời… Một mặt, kiến nghị với Nhà nước giảm thuế tài nguyên, thuế doanh thu đối với các nguồn điện tại chỗ này.
Như vậy phát triển điện lưới nông thôn là một trong những nhiệm vụ quan trọng đòi hỏi phải có sự chỉ đạo, tham gia của tất cả các cấp, các ngành để tạo nên nhân tố tích cực thúc đẩy kinh tế xã hội ở nông thôn nước ta trong sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước.
Ngọc Thanh – Xây Dựng/ Bộ xây dựng – Hà nội – số 39 -1998

Một đội ngũ trí thức được tôi luyện, giàu tài năng khoa học và nghệ thuật – Phần 3

Những hành trang quý báu đó giúp cho giới Kiến trúc sư Việt Nam vững bước vào thế kỷ XXI, cùng toàn Đảng, toàn dân thực hiện công nghiệp hóa – hiện đại hóa nhằm phát triển đất nước nói chung và kiến trúc nói riêng.
Đối với hoạt động của một tổ chức xã hội mang tính nghề nghiệp sáng tạo như kiến trúc thì 50 năm là một thời gian lịch sử không ngắn, song sự vận động, chuyển biến nói chung còn khá chậm chạp, đang chặt ra nhiều vấn đề quan trọng và cấp bách. Sự sa sút cảnh quan kiến trúc đã ở mức báo động, là mối lo không chỉ ở các nhà kiến trúc mà còn thấy ở nhiều giới, nhiều tầng lớp xã hội. Tình trạng xây dựng lộn xộn, tùy tiện, chất lượng, quản lý đô thị và thẩm mỹ công trình xuống cấp nghiêm trọng, nếu không kịp thời ngăn chặn và chấn chỉnh thì chẳng những lãng phí đất đai, tài nguyên, tiền của, công sức, mà còn gây ô nhiễm, làm suy thoái môi trường sống, hủy hoại bộ mặt văn hóa đất nước. Trong những năm trước đã từng có ý kiến và tập thể hoặc cá nhân các chuyên gia trọng yếu trong giới về một số chủ trương lớn như mở rộng thủ đô, xác định vị trí và biện pháp xây dựng các công trình quan trọng, cơ cấu bộ máy của ngành v.v… Song do vai trò tham mưu của Hội kiến trúc sư chưa có pháp chế Nhà nước làm cơ sở, số ý kiến có giá trị của nhiều Kiến trúc sư chưa được coi trọng, dẫn đến một số hậu quả đáng tiếc. Đã có những minh chứng hiển nhiên về số quyết định sai lệch trong xây dựng buộc chúng ta phải trả giá. Do vậy, chúng ta phải hành động theo đúng đường lối, quan điểm của Đảng là: “Coi trọng nghệ thuật kiến trúc vừa hiện đại, vừa dân tộc”.
Những tồn tại trên có phần do trình độ nghiệp vụ của bản thân anh chị em Kiến trúc sư chưa đáp ứng kịp đòi hỏi khách quan, nhưng còn một nguyên nhân quan trọng nữa là do xã hội và cơ quan có trọng trách chưa nhìn nhận đúng để trân trọng tài năng mỗi con người sáng tạo, chưa có biện pháp hữu hiệu để giúp cho từng Kiến trúc sư và đoàn thể của họ phát huy đầy đủ năng lực tiềm tàng của mình.
Năm mươi năm hoạt động của Hội, với những thành tựu nổi bật chứng tỏ Kiến trúc sư là đội ngũ trí thức được thử thách, luôn trung thành với Đảng, là một đội ngũ giàu tài năng khoa học và nghệ thuật, tận tụy phục vụ nhân dân. Với truyền thống đoàn kết nghề nghiệp, được sự tin yêu, ủng hộ của nhân dân, Hội kiến trúc sư Việt Nam tin chắc sẽ vững bước tiến lên trong sự nghiệp xây dựng đất nước, thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh.
PV – Xây Dựng/ Bộ xây dựng – Hà nội – số 38 -1998

Một đội ngũ trí thức được tôi luyện, giàu tài năng khoa học và nghệ thuật – Phần 2

Từ năm 1975, Cách mạng Việt Nam đã sang trang sử mới, đất nước thống nhất cùng đi lên Chủ nghĩa xã hội và từng bước thực hiện lời Bác Hồ dạy: Xây dựng đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn, giới Kiến trúc sư đông đảo cả nước tham gia mạnh mẽ vào công cuộc xây dựng, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, đưa sự nghiệp xây dựng có những đột biến mới: bộ mặt nhiều đô thị lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Hạ Long, Cần Thơ, Vũng Tàu… có biết bao biến đổi về kiến trúc và quy hoạch. Các tổ hợp kiến trúc không gian lớn tại Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và các khu công nghiệp tập trung, các khu đô thị mới khắp nơi mọc lên đã bước đầu thể hiện dáng vóc Việt Nam và hứa hẹn một tổng thể kiến trúc Việt Nam hiện đại, dân tộc và khoa học. Chắc chắn trong một tương lai không xa, bộ mặt kiến trúc nước nhà do chính các Kiến trúc sư Việt Nam thiết kế sẽ sánh vai cùng với nền văn minh kiến trúc khu vực và thế giới.
Nhìn lại chặng đường lịch sử phát triển. Hội Kiến trúc sư Việt Nam lúc đầu chỉ có khoảng 20 người đã trở thành thành viên của Hội kiến trúc sư quốc tế. Bây giờ cả nước đã có một đội ngũ đông tới hàng nghìn Kiến trúc sư tham gia vào các lĩnh vực như: Thiết kế kiến trúc dân dụng, công nghiệp, cây xanh, quy hoạch đô thị và nông thôn, lý luận phê bình và quản lý về kiến trúc quay hoạch.
Chúng ta tự hào về giới Kiến trúc sư đã sống, làm việc, chiến đấu và lớn lên trong lòng bão táp lịch sử của dân tộc. Lúc có chiến tranh Kiến trúc sư đem hiểu biết nghề nghiệp phục vụ chiến đấu, khi hòa bình đem nghệ thuật kiến trúc tham gia tổ chức cuộc sống, phục vụ sự nghiệp xây dựng đất nước giàu mạnh, tạo dựng đời sống văn minh cho con người. Thành quả của kiến trúc Việt Nam cũng là thành quả của Đảng, của nhân dân ta, là chiến công của các chiến sĩ văn hóa mới Việt Nam trên mặt trận kiến trúc – những người góp phần sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho nhân dân, cho đất nước.
Những thành quả ấy cũng là của Hội, của cả giới kiến trúc sư, đã được Đảng và Nhà nước đánh giá cao bằng phần thưởng cao quý: các Huân chương Lao động, Huân chương Độc lập hạng nhất, và 3 giải thưởng Hồ Chí Minh trong đợt đầu tặng cho các Kiến trúc sư đàn anh xuất sắc là Nguyễn Cao Luyện, Huỳnh Tấn Phát và Hoàng Như Tiếp.
PV – Xây Dựng/ Bộ xây dựng – Hà nội – số 38 -1998

Một đội ngũ trí thức được tôi luyện, giàu tài năng khoa học và nghệ thuật – Phần 1

Vào một ngày đẹp trời đầu tháng 4 năm 1948 tại chiến khu Việt Bắc rừng xanh ngút ngàn, gió lạnh, sương bay đã diễn ra một sự kiện trọng đại: Tổ chức Kiến trúc sư Việt Nam chính thức ra đời, lấy tên là Đoàn kiến trúc sư Việt Nam. Thành viên của Đoàn gồm các kiến trúc sư (KTS), những nhà tri thức yêu nước được đào tạo tại Đông Dương Học Xá đã thành danh, tên tuổi của họ được nhiều người biết đến đó là các kiến trúc sư: Nguyễn Cao Luyện, Hoàng Như Tiếp, Nguyễn Văn Minh, Hoàng Linh, Phạm Hoàng, Tạ Mỹ Duật, Nguyễn Gia Ninh, Nguyễn Nghi, Đàm Trung Lãng, Đàm Trung Phường, Ngô Huy Quỳnh, Nguyễn Văn Trân v.v… Họ là những người xây nền móng cho Hội kiến trúc nước nhà. Từ đó đến nay, sự nghiệp phát triển nền kiến trúc đất nước gắn liền với sự nghiệp Cách mạng.
Ngay sau ngày thành lập, các kiến trúc sư đã được tung đi mọi nẻo đường kháng chiến để lo liệu xây dựng khu căn cứ, các cơ sở của Bộ chỉ huy kháng chiến, làm công tác tuyên truyền văn hóa cho bọ đội và đồng bào nơi chiến khu. Đặc biệt, họ đã góp phần tạo ra cơ sở vật chất phục vụ Đại hội Đảng Lao động Việt Nam (tháng 3 – 1951) thành công tốt đẹp. Biết bao địa danh cách mạng khác gắn liền với công trình như nhà ở Bác Hồ tại Việt Bắc, nhà họp Quốc dân đồng bào… tuy kết cấu công trình đều là tre nứa đơn sơ nhưng 2 tên tuổi của nó đã đi vào lịch sử.
Sau hòa bình lập lại 1954, với phương châm: Thích dụng bền vững, tiết kiệm và mỹ quan trong điều kiện có thể” các Kiến trúc sư đã thiết kế nhiều công trình lớn của đất nước được xây dựng như: Quảng trường, Hội trường Ba Đình, cơ quan làm việc của các bộ như Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, Tổng cục thống kê, Văn phòng Bộ Xây dựng, các trường đại học Thủy lợi, đại học sư phạm, các khu nhà ở tập thể Kim Liên, Nghĩa trang liệt sĩ Mai Dịch, trường trung cấp Kiến trúc Hà Nội, nhà bảo tàng các dân tộc Thái Nguyên, nhiều bệnh viện, trường học, khu công nghiệp Việt Trì, nhà trẻ công viên Thống Nhất ra đời. Hầu hết các tỉnh đều xây dựng trụ sở Ủy ban nhân dân, hội trường, nhà bảo tàng…
Sau năm 1965 giặc Mỹ lao thang chiến tranh ra miền Bắc, 2 lớp Kiến trúc sư khóa I, khóa II ra trường và một số Kiến trúc sư được đào tạo từ các nước xã hội chủ nghĩa trở về đã bổ sung một lực lượng Kiến trúc sư đáng kể, sát cánh cùng với lớp đàn anh trước đây phục vụ trên các mặt trận xây dựng kiến quốc cũng như phục vụ quốc phòng. Trong giai đoạn này, hàng loạt các công trình mới được xây dựng tại Hà Nội và ở các tỉnh tại các khu sơ tán như nhà làm việc, bệnh viện, trường học, đặc biệt là hệ thống hầm chống bom trực tiếp, các công trình chỉ huy phục vụ chiến đấu. Giai đoạn này nhiều Kiến trúc sư đã khoác ba lô trên vai cùng các họa cụ cần thiết vào chiến trường. Đặc biệt Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát đã rời Sài Gòn ra vùng giải phóng xây dựng khu căn cứ địa kháng chiến, ông còn là nhà lãnh đạo cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc ta và sau khi nước nhà thống nhất ông là Chủ tịch Hội kiến trúc sư Việt Nam.
PV – Xây Dựng/ Bộ xây dựng – Hà nội – số 38 -1998