Nhà ở Thủ đô nhấp nhô thăng trầm – Phần 1

Đã có thời quỹ nhà ở của Thành phố Hà Nội bị thiếu thốn nghiêm trọng, đó là vào những năm sau giải phóng. Để khắc phục tình trạng trên, Nhà nước đã dành những cố gắng cho công cuộc phát triển nhà ở. Trong khoảng thời gian năm 1956 – 1960 một số khu nhà ở một tầng như Ấn Dương, Phúc Xá, Mai Hương… đã được xây dựng và đưa vào sử dụng. Quan niệm hiện đại lúc đó về các khu nhà ở là chiều cao từ 2 đến 5 tầng. Mong muốn đó đã trở thành hiện thực vào những năm 1961 – 1965, việc xây dựng nhà ở của Hà Nội, có những bước tiến mới qua sự xuất hiện 2 khu nhà ở Nguyễn Công Trứ và Kim Liên với những căn hộ có diện tích bằng nhau trừ 2 căn hộ đầu hồi theo tiêu chuẩn phân phối 4 mét vuông cho một người. Để thể hiện nguyên tắc bình quân. Các khu phụ được sử dụng chung cho từng tầng để tăng cường sự đoàn kết, giao tiếp cộng đồng xã hội. Hình thức tập thể ở đây được thể hiện đến nỗi nhà nào làm gì, ăn gì…. Mọi người đều biết. Lúc đó mọi biểu hiện cá nhân đều bị hạn chế đến mức tối đa. Các căn hộ đều sử dụng chung hành lang, cầu thang, vòi nước, nhà vệ sinh. Khái niệm căn hộ khép kín dường như quá mơ hồ và thực sự chưa phát triển. Từ năm 1966 đến năm 1985, trên cơ sở rút kinh nghiệm qua thời kỳ trước việc xây dựng đã được phát triển mạnh mẽ, hoàn chỉnh hơn về cơ cấu theo kiểu tiểu khu: nhà ở và các công trình công cộng phục vụ đời sống. Cùng với sự giúp đỡ của các chuyên gia Liên Xô trước đây và Triều Tiên, các tiểu khu: Trung Tự, giảng Võ, Thanh Xuân Bắc…. được ra đời. Trong những khu nhà đó cấu trúc căn hộ đã thể hiện một phần nào sự khép kín, mỗi căn hộ thường có hai phòng ở diện tích là 24 đến 28 mét vuông, còn khu phụ và không gian riêng tư trong những khu nhà này chưa được coi trọng, thể hiện như các phòng ở liền kề có cửa sổ mở ra hành lang, ai đi ai về mọi người đều biết, ai làm gì trong nhà đi ngoài cũng hay, hành lang đó trở thành một loại ngõ trên cao gây ra bao nhiêu bất tiện và thời kỳ đó rồi cũng qua. Đến năm 1985 diện tích nhà ở của Hà Nội, có khoảng 4,2 triệu mét vuông. Trong đó có hơn 60% thuộc sở hữu nhà nước, phần còn lại là sở hữu tư nhân. Cùng lúc đó khả năng đầu tư của Nhà nước cho việc xây dựng nhà ở càng ngày càng thu hẹp trước đây dành mỗi năm khoảng 10% ngân sách cho đầu tư xây dựng nhà ở khiến cho việc bao cấp về nhà ở ngày càng trở thành gánh nặng vượt quá khả năng cung cấp của nền kinh tế. Do đó đòi hỏi phải có một phương sách mới phù hợp hơn và chính mới về nhà ở đã ra đời theo hướng phát huy mọi khả năng, mọi nguồn lực của các thành phần kinh tế để chăm lo việc phát triển quỹ nhà ở. Đó chính là công cụ hữu hiệu của Nhà nước để điều chỉnh lại các chủ đề cá nhân hoặc tổ chức trong quan hệ pháp luật về xây dựng. Những công việc trên chúng ta vẫn đang làm nhưng còn chưa đồng bộ và kém hiệu quả. Người kiến trúc sư giữ vai trò trong việc điều trị căn bệnh trên phải chăng họ là cầu nối giữa các chủ thể, một bên là chủ đầu tư, bên kia là cơ quan quản lý. Những gì bị dồn nén về nhà ở thời kỳ bao cấp nay bung ra dường như muốn phá tan cái chung, cái tập thể để khẳng định cái tôi của mỗi người, mỗi gia đình. So với thời gian trước, điều kiện ở của một bộ phận dân cư Hà Nội đã được cải thiện rõ rệt nhưng khung cảnh đường phố, đô thị thì càng ngày càng nông thôn hóa.
Nguyễn Thanh Sơn – xây dựng/Bộ xây dựng – Hà nội –TBV13-(49)1999.

Mừng xuân 99

Đón xuân Sông Hậu gọi Sông Đà
Sông Gianh – nối bến đường xa thêm gần.
Sê San – Nước chảy tần ngần…
Đợi ngày phát điện – Suối ngàn Tây Nguyên.
Gian truân, hạn, lũ, bão tiền
Vượt qua, bước tiếp đón Thiên kỷ vàng
Mừng vui Kỷ Mão – Xuân sang,
Khơi nguồn nội lực, vững vàng tiến nhanh
Chung vui xây dựng trưởng thành
Chúc nhau xây dựng tiến nhanh vững vàng!
Nguyễn Mạnh Kiềm, ngày 28 tháng 1 năm 1999.
Quét tường
Tay em cầm chiếc chổi dài,
Quét vôi trong, quét vôi ngoài tường anh…
Nắng rung mây, gió rung cành,
Lunh linh tường trắng, tường xanh, tường vàng…
Tay em nhỏ nhắn, nhẹ nhàng
Mà em quét dọc, quét ngang trường thành,
Vội vàng, vôi trắng, vôi xanh
Quét đi xưa cũ để thành hôm nay…
Tường nhà ai khéo khéo xây,
Trách ai, để mốc bao ngày nắng mưa…
Diệu kỳ, nhát chổi em đưa
Bao nhiêu hoen ố từ xưa trắng ngần..
Quét tường mới để đón xuân
Và ngày mai cũng đến gần, em ơi! – Phạm Minh Giang.
Bàn giao
Phía sau đông băng giá
Phía trước xuân ấm nồng
Phút bàn giao tiền định
Nuối tiếc gì nữa không?
Nếu mùa xuân nhanh chân
Nắng hồng chừng sớm rộ
Nếu mùa đông lần nữa
Rét giùng giằng chưa tan
Cần mẫn vòng thời gian
Là trọng tài độ lượng
Nhanh chậm vẫn nồng nàn
Miễn trời đừng vô cảm
Phút thiêng liêng đã đến
Ngưng hạt sương giao thừa
Cái hạt sương nhỏ xíu
Dồn tự nghìn đời xưa. Đào Vĩnh
Hương Xuân
Cả ngày tất bật lo kiếm sống
Khi về thành phố đã lên đèn
Gặp dòng sông hoa trôi mọi nẻo
Hương xuân thơm ấm lối thân quen. Trần Đức
Nơi cội nguồn truyền thuyết tình yêu
Ba Vì vời vợi xanh
Tản Viên cao kỳ vĩ
Nơi đây từ ngàn ngàn thiên kỷ
Truyền thuyết về một mối tình bất tử
Sơn Tinh – Mỵ Nương.
Lời yêu thương còn vang vọng nghìn trùng
Tiếng thổn thức vẫn thầm thào trong gió
Nhịp đập con tim cồn cào sóng vỗ
Dập dềnh bến nước Đà Giang
Réo rắt thông ca non ngàn
Thác đổ ầm ào suối Con suối Cái
Ngơ ngác nai vàng, hoa ngát đồi Ba Trại
Hương rừng thoảng thoảng đưa bay.
Lũ beo nằm đùa rờn thung Mây
Bầy hạc liệng dập dìu nắng sớm
Tiên giáng trần từ Quảng Hàn cung cấm
Vũ điệu Thiên Bồng dìu dặt ao vua
Suối Hai trăng chiêng mặt hồ
Thác Bạc dựng thành, Khoanh Xanh giăng lá
Nàng tiên mơ màng ngủ quên bên ghềnh đá
Chim tìm đàn lảnh lót suối Mơ
Đỉnh Viên Nam mây trôi lững lờ
Tiếng vạc chiều gọi mặt trời đi ngủ
Cánh buồm bồng bềnh cõng gió
Đàn cò Ngọc Nhị chao nắng trên sông
Đường lên Đền Thượng rẽ mây từng không
Bông hoa rừng nhụy vương sắc núi
Mảnh đất quê lung linh huyền thoại
Màu tình yêu tím thuở cội nguồn. Nguyễn Địch Long
Một chút men
Gió rét thổi run anh gọi em
Ở miền miệt ấy nắng đang nền
Không dưng mà nhớ mà thương nhớ
Thoáng sắc mai vàng một chút men! Nguyễn Hoa.
Cửa sổ
Cửa sổ là mắt của nhà
Nhìn lên trời lộng nhìn ra sông dài
Cửa sổ là bạn của người
Giơ lưng che cả khoảng trời gió mưa
Cửa sổ còn biết làm thơ
Tiếng chim cùng ánh nắng ùa vào em
Tắt đèn cửa mở vào đêm
Trời sao thành bức tranh riêng treo tường
Bao nhiêu màu sắc yêu thương
Hàng ngày rọi sáng tâm hồn cho em
Cửa là đôi cánh thần tiên
Mở ra trời đất thiên nhiên con người. Phan Thị Thanh Nhàn.
Hoa Tre
Đến cuối đời tre mới bật hoa
Không sắc hương làm cảnh trong nhà
Tre hoa chết đứng, khô màu đất
Cho những đời sau tre trẻ ra. Phạm Đình n.
Từ ngôi nhà này đến ngôi nhà khác
Bạn hãy tìm một con đường bắt đầu đi từ ngôi nhà màu vàng dưới cùng bên trái để đi tới ngôi nhà màu xanh ở trên cao bên phải với điều kiện bạn chỉ đi qua từ nhà này đến nhà kia nếu chúng ở cạnh nhau, hàng ngang hoặc hàng dọc, không được đi hàng chéo và đặc biệt phải đi theo thứ tự màu sắc của từng ngôi nhà là vàng, lục, đỏ và xanh.
PV – xây dựng/Bộ xây dựng – Hà nội –TBV13-(49)1999.

Trang hoàng nhà cửa đón tết

Có lẽ cái tết này khá đặc biệt bởi giữa Đông mà những tia nắng ấm áp vẫn bao trùm đa phần các tỉnh phía Bắc. Với miền Nam câu hát “Anh ở trong này không có mùa đông”, đã không còn đúng nữa bởi cái se se lạnh khiến người ta nao lòng đã làm cho người dân miền Nam phần nào được thưởng thức cái cảm giác mùa đông xứ Bắc. Chỉ vài hôm nữa thôi, trên khắp phố phường Hà Nội bạn sẽ thấy những nhịp thở đầu tiên của mùa xuân, đó là chợ hoa… Chỉ biết rằng từ thủa ấu thơ chúng ta đã được chiêm ngưỡng vẻ kiêu sa của một loài hoa chỉ nở rộ vào những ngày giao thoa giữa năm cũ và năm mới. Sắc hồng của hoa Đào là biểu tượng họp… Người ta truyền rằng hoa đào càng nhiều lộc non, càng nhiều nụ hoa thì năm đó gia chủ sẽ gặp nhiều may mắn, trên thuận dưới hòa, làm ăn suôn sẻ… Đi sâu vào miền Nam bên những con đường sắc vàng của hoa Mai cũng nở rộ… Với bông tròn căng mọng từng lớp cánh ta dễ cảm nhận được sự phồn vinh, phú quý bởi màu vàng tượng trưng cho hỷ xả và thành đạt… Bên cạnh sự hiện diện của hoa Đào, hoa Mai người ta không thể quên một màu xanh bình yên lấp ló chĩu chịt những chùng, những quả căng tròn. Chợ Quất Hà Nội thường nở rộ vào giáp tết. Mỗi gia đình Hà Nội một cành Đào, một cây Quất luôn là người bạn trong dịp tết Nguyên đán, là một hình thức trang trí rất có ý nghĩa. Ai cũng biết rằng cây Quất ngoài mùi thơm của lá của quả, Quất còn có ý nghĩa gia chủ làm ăn phát đạt đi một về hai, đi năm về mười, gia đình đuề huề hạnh phúc, vì những trái Quất tượng trưng cho nguồn lộc. Chuẩn bị đón tết, đầu tiên bạn để một ngày thu dọn xếp sắp đồ đạc cho ngăn nắp, quét mạng nhện, quét vôi hoặc sơn lại tường nhà nếu có thể được. Lau chùi đồ vật để tạo cảm giác sạch sẽ, gọn gàng. Chỉ vậy thôi là khi bước vào nhà bạn đã cảm thấy khác lạ và thích thú hơn. Sắp xếp đồ đạc trong nhà là một khâu khá quan trọng. Thiết kế bàn uống nước đặt chỗ thoáng và rộng nhất trong nhà, để khi có khách bạn có thể di chuyển một cách dễ dàng nhất mà không tỏ ra khiếm nhã. Nếu không có phòng ngủ, giường nên kê chỗ kín đáo để khi có khách người nhà vẫn có thể nghỉ ngơi bạn cũng có thể căng ri – đô với loại vải chảy và màu trung tính nhã nhặn. Bàn ghế, giường tủ cần lau chùi bụi bặm thì năm sau mọi việ sẽ suôn sẻ hơn, tạo được cảm giác thoải mái. Trong những ngày Tết bạn nên thu dọn lại, khu bếp những thứ gì không cần phải xếp sắp thật gọn để tiện lợi, như đồ đựng gia vị để riêng một góc, đồ khô để riêng một góc hay một ngăn tủ. Bát đĩa nên lấy ra lau chùi vị chắc chắn sẽ cần sử dụng đến. Nồi hay đồ dùng để xào nấu treo lên tường hoặc úp vào một góc theo quy định. Bạn nên mua 1 chạn để úp vung nồi luôn khô ráo tránh bị nhiễm khuẩn bạn phải hết sức lưu ý mấy ngày Tết dễ bị ngộ độc thức ăn. Khi đã dọn xong có thể tự tay mình trang trí cho ngôi nhà. Cành Đào muối tươi lâu và nở hoa từ từ thì phải chặt vát gốc cành. Sau đó đốt cho sém gốc không đốt cháy quá rồi cắm vào bình to bình bằng gốm hoặc thủy tinh, pha lê… Nếu bình xấu quá bạn có thể cắt một số hình trang trí nhỏ dán lên bình cho đẹp. Sau khi cắm cành Đào nên treo một bộ đèn nháy các màu sắc, và gài lên từ 3 đến 5 bưu thiếp Chúc mừng năm mới tùy theo cành to hay nhỏ. Ngoài ra trên thị trường có bày bán vô khối những hình trang trí theo trên cánh Đào, bạn có thể mua về và tự treo sao cho các màu sắc sôi nổi, của ngày hội. Một vài sợi trạng kim óng ánh phản chiếu sắc màu của đèn nháy sẽ tăng thêm sức hấp dẫn. Với cây Quất trang trí đơn giản hơn vì nó rất rậm rạp, nên sử dụng hơn sợi trang kim. Ngoài ra có thêm một lọ hoa to bao gồm Thược dược, Violet Hồng, hoặc lọ Hồng riêng, cắm kèm với lá mãng và hoa nhỏ màu trắng hoặc vàng như Mimoza… Lọ hoa có thể đặt tại góc nhà trên một cái đôn nhỏ cao khoảng 40 cm. Trên bàn uống nước không nên đặt lọ hoa to vì như vậy sẽ khó nói chuyện với khách. Bạn chỉ nên đặt lọ hoa con từ 3 đến 5 bông Hồng hoặc hoa Cúc kèm hoa nhỏ trắng hoặc lưu ý tím và lá cọ… Cắm theo kiểu tự nhiên, bạn hãy chọn một đoạn gốc cây khô nhỏ có chiều dài khoảng 15 đến 20 cm có phủ lớp sơn bóng màu vàng đậm hoặc nâu… Với loại này chỉ cắm 2 bông hoa cùng với cành khô và hoa nhỏ màu vàng hoặc trắng cộng với lá măng dẹt. Bạn nên cắm hai lọ, hay bát chông, một lọ đặt trên bàng uống nước, một lọ đặt ở góc ghế sofa hoặc chỗ cần thiết để tạo ra sự sinh động, ấm cúng cho ngôi nhà… Cửa sổ, cửa ra vào buồng nên có rèm bằng ren hay chất liệu vải mềm tạo sự thướt tha làm mềm bớt mảng khô cứng của tường. Trên cửa ra vào bạn có thể treo bộ đèn nháy nữa nhưng 1 màu thôi theo hình của cửa để tỏ sự tôn trọng khách đặt phía trong nhà. Cửa sổ hoặc viền của bàn thờ tổ tiên bạn cũng có thể treo đèn nháy. Mâm ngũ quả bầy từ 2 – 3 nải chuối xanh đan xen giữa màu xanh, đậm của chuối là màu xanh nhạt của táo, màu đỏ của quất, màu nâu của hồng xiêm, màu vàng của quả trứng gà. Tất cả hương vị ngũ quả, bánh chưng, hoa tết hòa quyện với mùi hương trầm ngan ngát đặc trưng của ngày tết. Chỉ một chút thay đổi, một chút sự cố gắng của bạn ắt hẳn khi khách đến nhà sẽ hài lòng vì những lời chúc đầu xuân đầy tốt đẹp và sự trầm trồ của khách khi bước vào thế giới ngọt ngào của một gia đình hạnh phúc tươi trẻ như mùa xuân.
Huyền Trang – xây dựng/Bộ xây dựng – Hà nội –TBV13-(54)1999

Người thợ sông Đà trên công trường thủy điện Sông Hinh – Phần 2

Kết quả đến nay, Công ty đã triển khai xong phương án tổ chức lại lực lượng nhằm chuẩn bị thị trường xây dựng dọc duyên hải miền Trung và khu vực phía Nam. Nhận được tin báo khẩn cấp và có công điện của Bộ Công nghiệp, sáng ngày 12 tháng 2 năm 1999 tức ngày 28 tết Kỷ Mão, công ty xây dựng Sông Đà 6 đã khẩn trương phát huy động toàn bộ nhân lực, phương tiện lên cứu giúp công ty xây dựng thủy lợi 24 khắc phục sự cố. Hàng trăm con người làm cả trong 3 ngày Tết… Sau đúng một tháng ròng rã công trường đã phải đào đắp hơn 3 nghìn mét khối đắt đá xử lý chống thấm, nạo vét hàng chục nghìn mét khối đất đá sạt lở mới khắc phục xong sự cố. Sự việc này, ngoài hậu quả gây lãng phí công sức, tiền của, còn làm chậm tiến độ mục tiêu phát điện của nhà máy. Song chúng tôi cũng rất lấy làm lạ là, toàn bội khu đập chính yêu cầu kỹ thuật thi công rất khắt khe, vì đây là sinh mạng lâu dài của nhà máy nên đòi hỏi doanh nghiệp xây lắp phải có đủ năng lực mới đảm nhận thi công được, nhưng con đập thủy điện này không hiểu vì sao Tổng Công ty điện lực và Bộ Công nghiệp lại chọn giao cho công ty xây dựng thủy lợi 24 thi công, trong lúc đơn vị này chưa làm đập thủy điện bao giờ. Thậm chí khi có sự cố xảy ra, cần đến những máy bơm lớn từ 1 nghìn đến 1,2 nghìn mét khối trong một giờ, công ty xây dựng thủy lợi 24 cũng không có, lại phải cầu cứu Công ty xây dựng Sông Đà 6. Đây là một bài học cần rút kinh nghiệm trong việc xét thầu và chọn giao thầu thi công xây dựng những công trình hiện đại như thế. Hoàn thành nhiệm vụ chi viện cho Công ty xây dựng thủy lợi 24 khắc phục sự cố khu đập chính, Công ty xây dựng Sông Đà 6 lại dồn toàn bộ lực lượng về tuyến năng lượng thi công nhà máy, trạm biến thế… để kịp bàn giao mặt bằng cho bên lắp máy vào tổ hợp lắp đặt thiết bị. Ngoài mục tiêu phấn dấu bảo đảm phát điện tổ máy 1 của nhà máy thủy điện Sông Hinh, ngày từ cuối năm 1998 và quí đầu năm 1999, Công ty xây dựng Sông Đà 6 đã lo phương án cho Hậu Sông Hinh để đủ việc làm gối đầu cho Cán bộ Công nhân viên khi công trình hoàn thành. Kết quả đến nay, Công ty đã triển khai xong phương án tổ chức lại lực lượng nhằm chuẩn bị thị trường xây dựng dọc duyên hải miền Trung và khu vực phía Nam. Cụ thể là Công ty đã thành lập phòng dự án đủ mạnh để tiếp thị đấu thầu, chuẩn bị các dự án đầu tư phù hợp với khả năng hiện có của mình, xúc tiến xin từ 50 đến 100 héc ta đất ở Phú Yên để giao cho những gia đình Cán bộ công nhân viên có nhu cầu ở lại phát triển ngành trồng rừng. Tại Thành phố Hồ Chí Minh, Dung Quất – Quảng Ngãi, Đông Hà, Quảng Trị, Hà Nội… công ty cũng đã thành lập các chi nhánh để tìm kiếm các công việc về xây dựng hạ tầng kỹ thuật, xây dựng công nghiệp, thủy lợi và dân dụng. Hiện nay các chi nhánh này đã bước đầu đạt được một số kết quả, như Đang thực hiện việc xây dựng công trình Đài hóa thân hoàn vũ tại Bà Rịa Vũng Tàu, thi công đường quốc lộ 1 tại khu vực ga Đồng Đăng – Lạng Sơn, chuẩn bị thi công đường đến nhà máy lọc dầu số 1 Dung Quất….
Hải Thanh – xây dựng/Bộ xây dựng – Hà nội –TBV13-(54)1999.

Người thợ sông Đà trên công trường thủy điện Sông Hinh – Phần 1

Mới cuối tháng 3 mà thời tiết ở Phú Yên, đã nắng nóng có ngày tới 32 độ C đến 33 độ C. Dưới cái nắng nóng ấy cộng với gió Tây thổi về làm cho mảng rừng thông, rừng dừa của huyện Sông Hinh xém khô, vàng rộm. Đứng trên đồi cao nhìn vào công trường xây dựng nhà máy thủy điện Sông Hinh đang thi công ầm vang tiếng máy cầu, máy xúc, xe vận tải đất đá đắp đập cuốn bụi mịt mù… chúng tôi thầm cảm phục ý chí và sức sáng tạo của đội ngũ Cán bộ công nhân viên đi làm thủy điện, khai thác nguồn than trắng để làm ra ánh sáng phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Anh Đỗ Phong Thu, giám đốc công ty xây dựng Sông Đà 6 Tổng công ty xây dựng Sông Đà chỉ tay về phía khu vực tuyến năng lượng giới thiệu: “Công trình nhà máy thủy điện Sông Hinh, đặt tại huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên có 2 tổ máy tuốc bin với tổng công suất là 70 mê ga oát. Theo dự án đầu tư được duyệt, đến hết năm 1999 sẽ phát điện tổ máy số 1 và vào giữa quý I năm 2000 sẽ phát điện tổ máy số 2. Công ty xây dựng Sông Đà 6, được thi công gói thầu chính tuyến năng lượng của nhà máy. Hầu hết anh chị em Cán bộ công nhân viên ở công ty đều ở các tỉnh phía Bắc, sau khi hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nhà máy thủy điện Hòa Bình trên sông Đà, họ đã đi tìm việc và nhận thầu thi công xây dựng lắp ráp ở mọi miền đất nước. Trong đó có nhà máy thủy điện Vĩnh Sơn, thủy điện Yaly và đến cuối năm 1996, tất cả họ lại tụ hội về dòng Sông Hinh để cùng nhau chung lưng, góp sức dựng xây nhà máy thủy điện mới. Những người thợ xây dựng Sông Đà 6 đã vượt qua tất cả mọi khó khăn từ khâu chuẩn bị công trường, tổ chức lực lượng lao động, phương tiện thiết bị máy móc thi công và cả tiền vốn để bảo đảm tiến độ và chất lượng công trình. Vì thế, đế hết năm 1997, tại gói thầu tuyến năng lượng đã thực hiện được một khối lượng công việc vượt dự kiến: Đào đất đá đạt gần 2 triệu mét khối, đổ bê tông hờ và bê tông hầm được 3.500 mét khối… với tổng giá trị sản lượng đạt hơn 102 tỷ đồng. Trong năm 1998, năm thứ 2 nhận nhiệm vụ thi công tuyến năng lượng nhà máy thủy điện Sông Hinh, Công ty xây dựng Sông Đà 6 đã hoàn thành đào hở hố móng nhà máy vào ngày 30 tháng 4 năm 1998, thi công thông toàn bộ hầm dẫn nước vào ngày 30 tháng 9 năm 1998, thi công thông toàn bộ hầm dẫn nước vào ngày 30 tháng 9 năm 1998, vượt tiến độ là 30 ngày. Năng suất lao động thường xuyên đạt từ 110% đến 125% so với định mức được giao. Phát huy kết quả ấy, ngay từ những tháng đầu năm 1999, tập thể Cán bộ công nhân viên công ty đã dấy lên một phong trào thi đua lao động sản xuất khá sôi nổi nhằm phấn đấu đạt giá trị tổng sản lượng là 154 tỷ đồng, tăng cao hơn năm 1998, góp phần bảo đảm mục tiêu phát điện tổ máy số 1 vào cuối năm 1999. Giữa lúc mọi công việc đang thuận lợi thì tại khu đập chính do công ty xây dựng thủy lợi 24 thi công xây dựng ra sự cố rò rỉ ở đê quai và lõi đá đập, gậy sạt lở, có nguy cơ vỡ nước từ hồ chứa xuống hạ lưu và tuyến năng lượng. Ngoài mục tiêu phấn dấu bảo đảm phát điện tổ máy 1 của nhà máy thủy điện Sông Hinh, ngày từ cuối năm 1998 và quí đầu năm 1999, Công ty xây dựng Sông Đà 6 đã lo phương án cho Hậu Sông Hinh để đủ việc làm gối đầu cho Cán bộ Công nhân viên khi công trình hoàn thành.
Hải Thanh – xây dựng/Bộ xây dựng – Hà nội –TBV13-(54)1999.

Hải Phòng triển khai dự án xây nhà ở bán cho người có thu nhập thấp

Thực hiện chỉ đạo của thường trực thành ủy, Hội đồng Nhân dân thành phố về việc triển khai dự án xây dựng nhà ở bán cho người thu nhập thấp, sau khi xem xét dự án do Công ty xây dưng và phát triển đầu tư lập dự án cũng như ý kiến tham gia của các ngành, đề xuất của Sở Xây dựng, Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng vừa có quyết định cho phép tổ chức thực hiện dự án xây nhà ở để bán cho người co thu nhập thấp.
Ông Nguyễn Ngọc Thành, giám đốc Công ty xây dựng và phát tirener đầu tư thuộc Sở Xây dựng Hải Phòng đơn vị chủ dự án, chủ đầu tư công trình cho biết: Xuất phát từ sự bức xúc về nhà ở đối với người có thu nhập thấp nên công ty đã lập dự án này. Đây là đề tài nghiên cứu qua nhiều năm của công ty. Dự án này hoàn toàn không phải dành cho người nghèo khổ, sa cơ lỡ vận đang thiếu nhà ở trong thành phố và cũng không phải để giải quyết tình thế về nhà ở trong việc quy hoạch đô thị như ở thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội đã làm trong mấy năm qua. Điểm riêng và khác biệt mang tính kinh tế – xã hội của các dự án là đối tượng phục vụ sẽ là Cán bộ công nhân viên đang làm việc tại các cơ quan Nhà nước, các doanh nghiệp quốc doanh, các đơn vị thuộc thành phần kinh tế khác và các đối tượng chính sách cần được quan tâm về nhà ở. Đây chính là lực lượng sản xuất quan trọng đã và đang còn cống hiến cho xã hội nên cần được đầu tư cho bản thân, gia đình họ trước mắt cũng như lâu dài. Ủy ban nhân dân Thành phố đã đồng ý cho Công ty xây dựng nhà chung cư 3 tầng, bao gồm 180 căn hộ độc lập, khép kín, có hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật hoàn chỉnh dồng bộ thuộc khu E Cát Bi, quận Ngô Quyền. Diện tích mỗi căn hộ từ 18 đến 44 mét vuông, giá khoảng 40 triệu đến 100 triệu đồng. Về nguồn vốn, ngân sách Thành phố đầu tư cho chi phí giải phóng mặt bằng và xây dựng cơ sở hạ tầng chung của dự án, còn lại, Nhà nước sẽ cho vay ưu tiên không lấy lãi. Nhà nước không thu tiền sử dụng đất. Chính vì vậy, giá thành công trình rẻ phù hợp với người có thu nhập thấp. Bên cạnh đó, Công ty sẽ huy động vốn từ những đối tượng mua theo danh sách phê duyệt của Ủy ban nhân dân Thành phố để xây dựng công trình. Khi hỏi về những khó khăn để thực hiện dự án, ông Nguyễn Ngọc Thành nói rõ Đó là quy trình xuyết duyệt các đối tượng được mua như thế nào để bảo đảm tính công bằng, công khai, dân chủ và mang tính xã hội? Về nguyên tắc chung là giảm giá công trình nhưng các khoản thuế có được giảm hay không?… Tuy nhiên, quyết tâm của lãnh đạo, cán bộ công nhân viên toàn Công ty là vừa làm vừa giải quyết mâu thuẫn, rút kinh nghiệm đi lên đạt bằng được mục tiêu của dự án.
Từ năm 1999 những dự án đầu tư mới do Qũy hỗ trợ đầu tư quốc gia cho vay thực hiện mức lãi suất quy định tại Quyết định số 13/1999/QĐ – TTg, ngày 4 tháng 2 năm 1999 của Thủ tướng Chính phủ là 0,81% một tháng đối với các dự án được Chương trình mục tiêu và các chương trình khác, mức lãi suất cho vay thực hiện theo quy định của Thủ tướng Chính phủ đối với từng chương trình CV 1206/VPCP – KTTH ngày 24 tháng 3 năm 1999.
Sĩ Thoại – Xây Dựng/ Bộ xây dựng – Xuân Kỷ Mão – 1999

Công ơn sinh thành – Phần 2

Và có võ đoán chăng khi cho rằng những tệ nạn đó còn có đất sống một khi trong một bộ phận máy cầm quyền còn đặt mình trên nhân dân, vẫn còn làm một người “đầy tớ khó tính” của nhân dân, chứ không phải là “đầy tớ trung thành” của nhân dân. Và một số tổ chức Đảng vẫn chưa thể làm hạt nhân đoàn kết, là tổ chức chiến đấu một khi chưa thực sự xem mình là tôi tớ của quần chúng nhân dân. Vấn đề ở chỗ trong suy nghĩ của một số Đảng viên, cấp ủy vẫn còn xem dân chủ như là một ân huệ mà họ có quyền ban phát cho dân. Chính tồn tại đó đã tạo cớ cho một số người “kêu đòi dân chủ”, đòi hủy bỏ chuyên chính vô sản, đòi xét lại vai trò lãnh đạo của Đảng mà thực chất của cuộc “đấu tranh dân chủ” ấy chỉ là chiêu bài che giấu tham vọng tranh quyền lãnh đạo mà thôi.
May mắn thay, người lãnh đạo cao nhất của Đảng kịp thời đưa ra một cách diễn đạt mới về mối quan hệ Dân – Đảng khi đánh giá nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu đã nhấn mạnh “Tấm lòng và công ơn của nhân dân đối với Đảng bộ Thành phố tựa như công ơn sinh thành của cha mẹ”. Và không chỉ nhân dân thành phố, nhân dân cả nước đối với Đảng cũng có một tấm lòng và công ơn như thế. Nếu toàn Đảng có cùng suy nghĩ như trên thì hành động của mỗi Đảng viên, mỗi Đảng bộ chắc chắn sẽ khác. Và Đảng sẽ có thêm một nguồn sức mạnh mới. Một nguồn sức mạnh do chính nhân dân đem lại cho những đứa con của mình trong sự nghiệp xây dựng đất nước, cũng như ngày nào chính nhân dân đem từng lon gạo nắm muối nuôi con kháng chiến.
Nền dân chủ ở nước ta có định hướng rõ ràng là đem lại quyền lực về tay nhân dân, do đó giữa dân chủ và chuyên chính không có mâu thuẫn, nó chỉ là hai mặt của vấn đề. Chuyên chính để bảo đảm cho dân chủ, dân chủ tạo thêm sức mạnh cho chuyên chính. Xử lý sai mối quan hệ biện chứng này thì sẽ rơi vào cực đoan, hoặc vô chính phủ hoặc độc tài chuyên chế. Theo cách nghĩ đó thì không nhất thiết phải đa Đảng mới dân chủ, cũng không phải đã đa Đảng thì không thể có tệ nạn độc tài. Lịch sử hiện đại đã minh chứng không ít cho điều này.
Vấn đề của chúng ta là làm sao nâng tầm của Đảng lãnh đạo, làm cho Đảng ngày càng có bản lĩnh, có trí tuệ và có sức mạnh hậu thuẫn của toàn dân. Chính vì thế sự nhấn mạnh vai trò nhân dân trong quá trình xây dựng Đảng như Tổng bí thư Lê Khả Phiêu đã phát biểu ở trên là sự điều chỉnh tư duy cần thiết đối với mọi Đảng bộ để toàn Đảng càng quán triệt hơn nữa cội nguồn và mục đích tồn tại của mình và ngày càng xứng đáng với vai trò của một Đảng cầm quyền.
Trong năm 1998, khái niệm “dân chủ trực tiếp ở cơ sở” bắt đầu xuất hiện và dần dần được thể chế hóa thành quy chế. Vào những ngày cuối năm 1998, những lời dặn dò của Tổng bí thư Lê Khả Phiêu với Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh, cũng là lời dặn dò với các Đảng bộ trong cả nước, một lần nữa khẳng định bản chất cách mạng của Đảng, nhấn mạnh cội nguồn nhân dân của Đảng. Điều đó củng cố thêm niềm tin Đảng sẽ không ngừng đổi mới tư duy, đổi mới phương thức hoạt động, để ngày càng hoàn chỉnh hơn thể chế chính trị của đất nước, trong đó nhân dân luôn luôn là chủ thể số một.
Được như thế thêm một mùa Xuân Đảng càng thêm trẻ.
Hồng Nguyên –Xây Dựng/ Bộ xây dựng – Xuân Kỷ Mão – 1999

Công ơn sinh thành – Phần 1

Thời trai trẻ theo Đảng làm cách mạng, chúng tôi thuộc lòng những câu ca ca tụng công ơn của Đảng. “Đảng đã cho tôi sáng mắt sáng lòng”; “Đảng đã cho ta một Mùa Xuân đầy hy vọng”… Đối với bao thế hệ chúng tôi Đảng là một cái gì thiêng liêng, cao cả.
Sau ngày giải phóng, trước thực tế bề bộn của cuộc sống, tôi vẫn vững niềm tin vào Đảng, nhưng bắt đầu có những ưu tư lo lắng. Hình như có một điều mơ hồ nào đó xuất hiện tạo nên một khoảng cách giữa nhân dân với Đảng. Dần dần tôi nhận ra rằng điều mơ hồ đó như là một căn bệnh rất cụ thể: bệnh quan liêu. Căn bệnh thường gặp của một Đảng cầm quyền đã làm tổn thương giữa Dân với Đảng, làm căng thẳng thêm cuộc khủng hoảng kinh tế – xã hội ở những năm 80. Những năm tháng ấy tâm trạng của những Đảng viên ưu tư trước số phận đất nước quả là rất nặng nề. Hạnh phúc thay, những đổi mới về tư duy trong thời kỳ Tổng Bí thư Trường Chinh đã tạo tiền đề cho công cuộc đổi mới từ Đại hội VI của Đảng. Và Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã để lại dấu ấn về sự nghiệp đồng thời với việc kiên trì chủ nghĩa xã hội, đưa đất nước ta vượt qua thời kỳ ngàn cân treo sợi tóc ở những năm cuối thập kỷ thứ tám.
Đất nước dần đi vào ổn định. Kinh tế phát triển song song với dân chủ được mở rộng, pháp luật ngày càng đóng vị trí quan trọng trong đời sống chính trị – kinh tế – xã hội của đất nước. Công khai, dân chủ hóa mang lại bộ mặt mới trong đời sống xã hội, đồng thời cũng làm cho nhân dân thấy rõ sự nguy hiểm của các tệ nạn vốn đã tồn tại trong cơ chế quan liêu bao cấp, nay lại lợi dụng những sơ hở “chuyển giai đoạn” để phát triển mạnh hơn, sâu hơn. Tệ quan liêu, tham nhũng phát triển đa dạng hơn, mức độ và quy mô cũng sâu rộng hơn đến mức đã được Quốc hội gọi là “quốc nạn”.
Chính vì thế mối ưu tư hàng đầu của Đảng là phải làm trong sạch bộ máy của Đảng, của Chính quyền. Nhiều Chỉ thị, Nghị quyết đã ban hành nhưng hiệu quả thì chưa đạt như ý muốn. Có vấn đề trong nhận thức của Đảng viên? Có vấn đề bắt nguồn từ cán bộ có chức, có quyền? Có vấn đề trong tổ chức thực hiện? Phải chăng căn bệnh quan liêu không thể diệt trừ bằng những biện pháp quan liêu? Tất cả những nguyên nhân trên đều có phần đúng, nhưng vẫn không phải là cái gốc. Và những ưu tư của những Đảng viên chân chính vẫn đè nặng với những hiện tượng tiếp tục làm nhức nhối lòng người diễn ra nhan nhản trong xã hội. Người ta kiếm chác bằng đủ mọi cách, từ việc kê giá từng cây xanh trồng bên lề đường, đến việc ăn xén tiền cứu trợ đồng bào bị bão lụt. Không chỉ có cán bộ kinh tế mới tham nhũng mà cả cán bộ giáo dục, Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc cấp tỉnh cũng “ăn”. Ở đâu có chút “mầu” là ở đó có ruồi nhặng. Và đau lòng thay trong số đó phần lớn lại là cán bộ, Đảng viên. Hình như đối với họ, vào Đảng là con đường tất yếu dẫn đến bả vinh hoa.
Hồng Nguyên –Xây Dựng/ Bộ xây dựng – Xuân Kỷ Mão – 1999

Yêu cầu phát triển đô thị cao

Tổng cục Địa chính có đưa ra một số giải pháp nhằm đẩy nhanh tiến độ cấp giấy. Một trong những kiến nghị hàng đầu đó là “Tổ chức lại hệ thống cơ quan quản lý đất đai và quản lý nhà ở đô thị theo hướng sáp nhập hai cơ quan này để thống nhất quản lý Nhà nước về đất đai, nhà ở đô thị vào một đầu mối”. Đây là một giải pháp thiết thực dựa trên hiệu quả thực hiện mô hình Thành phố Hồ Chí Minh và thành phố Đà Nẵng đã làm.
Thành phố Đà Nẵng là đơn vị trực thuộc Trung ương có 2 vạn ha diện tích nội thành và 7,4 vạn ha ngoại ô (chưa kể diện tích huyện đảo Hoàng Sa). Giống như tất cả các địa phương khác trong cả nước, một thời gian dài từ khi Nghị định 60/CP ra đời đến năm 1996, việc thực hiện ở Quảng Nam – Đà Nẵng diễn ra khá ì ạch. Nguyên nhân chủ yếu là trách nhiệm liên quan đến cả 2 sở Địa chính và Nhà đất, nhưng phạm vi quyền hạn lại không được xác định rõ ràng. Đầu năm 1997, khi thành phố Đà Nẵng được thành lập, lãnh đạo thành phố đã lấy Luật đất đai làm cơ sở chỉ đạo, lấy việc tinh giản bộ máy và hiệu quả hoạt động của mô hình cơ cấu bộ máy làm trọng, thành lập Sở Địa chính – Nhà đất (ĐC – NĐ). Sở được tổ chức thành 8 phòng: Tổng hợp hành chính – Tổ chức, Đo đạc – Bản đồ, Đăng ký – Thống kê, Quy hoạch – Giao đất, Định giá đất (cả nhiệm vụ khai thác quỹ đất), Quản lý nhà, Đăng hộ nhà và Thanh tra. Ngoài ra còn có Trung tâm kỹ thuật Địa chính và công ty kinh doanh nhà. Các cán bộ Địa chính – Nhà đất đều có mặt tại các đơn vị từ cấp quận, huyện xuống đến Phường xã…
Chỉ sau hơn một năm vừa tổ chức vừa đi vào hoạt động, mô hình sáp nhập Địa chính – Nhà đất ở thành phố Đà Nẵng đã đạt kết quả tốt. Trong 2 năm 1995 – 1996 ở tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng (cũ) sở Địa chính chuyển cho sở Nhà đất hơn một vạn hồ sơ để kiểm tra hiện trạng nhà nhưng sở Nhà đất chỉ thực hiện được khoảng 500 hồ sơ. Nhưng chỉ từ tháng 5 – 1997 đến nay, Sở Địa chính – Nhà đất đã cấp được 3000 giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và 7000 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở đô thị, đáp ứng được 96% nhu cầu của nhân dân thành phố.
Không chỉ có thể, từ tháng 8 – 1997, Sở Địa chính – Nhà đất còn chịu trách nhiệm điều hành tổ công tác liên ngành của thành phố gồm Địa chính – Nhà đất, Xây dựng, Kho bạc thành 4 bộ phận: tiếp nhận đơn, nhu cầu; đo vẽ để kiểm tra, xác minh; thu tiền, viết giấy chứng nhận và hoàn tất thủ tục cuối cùng để thực hiện cơ chế hành chính “một cửa”. Chỉ cần qua “một cửa” này, mọi nhu cầu sẽ được giải quyết xong trong vòng 30 đến 40 ngày, trường hợp phức tạp cũng không quá 2 tháng.
Song song với việc triển khai Nghị định 60/CP và 61/CP thì việc thực hiện Chỉ thị 245/TTg cũng được tiến hành rất khẩn trương. Đến cuối năm 1997, 98% doanh nghiệp có nhu cầu đã được giải quyết xong các thủ tục thuê đất, thu lại hơn 20 ha đất sử dụng sai mục đích kinh doanh từ các doanh nghiệp. Sở đã thu nộp ngân sách nhà nước hơn 100 tỷ đồng. Thành phố Đà Nẵng trở thành thành phố thứ hai trong toàn quốc đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của địa phương đến năm 2010.
Từ những kết quả trên cho thấy, việc sáp nhập 2 Sở Địa chính – Nhà đất thực sự có tính quyết định trong việc tháo gỡ nhiều ách tắt để thực hiện đạt hiệu quả cao các chủ trương của Chính phủ, tinh giản bộ máy hành chính mà lại tăng hiệu quả quản lý nhà nước, đóng góp nguồn kinh phí lớn cho ngân sách từ nhà và đất. Thành phố Hồ Chí Minh cũng mới thực hiện mô hình này, trở thành một trong số những địa phương triển khai Nghị định 60/CP mạnh nhất trong cả nước. Không kể các đô thị vùng sâu vùng xa, hiện nay chúng ta cũng còn rất nhiều thành phố có điều kiện tương tự thành phố Hồ Chí Minh và thành phố Đà Nẵng (yêu cầu phát triển đô thị cao) nhưng tiến độ thực hiện việc quản lý nhà, đất còn rất chậm. Nên chăng có sự tổng kết việc thực hiện mô hình này để các địa phương khác có thể rút kinh nghiệm, áp dụng.
Dương Hồng Yến – Xây Dựng/ Bộ xây dựng – Hà nội-1998

Kế hoạch bảo vệ sử dụng di tích

Hà Nội đang hối hả, chỉnh trang các di tích lịch sử, văn hóa, xây dựng tượng đài để đón chào Thăng Long 1000 năm tuổi. Ấy vậy mà có một di tích gắn liền với vị vua triều Lý, người ta đã chọn đất, đóng đô ở Thăng Long, gắn liền với kinh thành gần 1000 năm tuổi ấy lại đang có nguy cơ bị xóa bỏ.
Dòng người tuôn chảy trên đường Thanh Niên, họ thưởng thức bầu không khí trong lành với gió mát, ngắm phong cảnh và ở một thoáng nào đó có một hòn đảo nhỏ bốn bề sóng vỗ sẽ lọt vào tầm mắt của họ. Nơi ấy có một lịch sử thăng trầm của một di tích gắn liền với truyền thuyết Lý Công Uẩn lập đô ỏ Thánp LonR và đang chứng kiến một sự xâm phạm nghiêm trọng.
Truyền thuyết kể rằng Lý Công Uẩn tuổi Tuất (sinh năm Giáp Tuất – 974) lập Quốc đô ở Thăng Long cũng năm Tuất (Canh Tuất 1010). Cùng thời điểm đó, có con chó ở chùa Cổ Pháp (quê nhà vua) để được một con lông trắng có đốm đen hình chỉ ‘Vương” được người đời cho là điềm ông lên làm Vua. Khi lên ngôi nhớ lại chuyện xưa vua cho dựng một ngôi đền nhà ở cạnh núi Nùng trong Hoàng thành. Khi xây dựng lại thành sau này mới chuyển bài vị thờ thần ra một hòn đảo nhỏ nằm trên hồ Trúc Bạch gọi là đền Cẩu Nhi, về sau khoảng đầu thế kỷ XX đền này thờ “Thủy trung tiên từ” (Bà tiên dưới nước) và thờ cả Tam phủ thánh mẫu.
Đền Câu Nhi đã từng bị phá đi năm 1982 để làm chỗ sản xuất của mỗi Hợp tác xã đến năm 1985 lại biến thành một nhà hàng ăn uống (Quán Cổ ngự). Dư luận đã rất bất bình, Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội đã chỉ đạo chính quyền địa phương dẹp bỏ quán ăn trên và xây trả lại một phương đình nhỏ bên trong có tấm bia đánh dấu chỗ đó là gò Cẩu Nhi. Công trình do Trung tâm bảo tồn tu bổ di tích Trung ương thuộc Bộ Văn hóa thực hiện và hoàn thành ngày 4 tháng 6 năm 1988.
Giờ đây, phương tiện duy nhất nối gò nổi Gấu Nhi với đất liền là một chiếc thuyền nhỏ có dây buộc vào hai đầu bờ, khách đến từ thao tác biểu diễn. Cảm giác đầu tiên của tôi khi đặt chân lên hòn đảo là ngạc nhiên về sự can thiệp thô bạo của con người đến một di tích lịch sử. Chính giữa gò là Phương đình với mái đao cong vút không nhận ra được vì bị bao quanh phía Nam, phía Đông bằng những nhà tạm bằng cót ép, gỗ mái lợp tôn được gọi là ”Đền”, bên trong thờ Tam phủ Công đồng, Đức Thánh Trân… và cũng là nơi nghỉ ngơi cho một người trông Đền. Xung quanh đảo có tới 5, 6 miếu thờ lầu cô, lầu cậu… và cả một quán bán nước. Cây cối ven đảo bị “cắt tỉa” đến phẳng phiu để nhường lối cho các phương tiện thi công cơ giới đóng cọc kè đá (thuộc dự án kè hồ Trúc Bạch.
Được biết việc xây dựng, quản lý, sử dụng những hạng mục công trình trên (trừ Phương đình) là một ông chủ “Đền” có nhà ở trong phố còn thường trực ở đây là một người nam giới trên ba mươi tuổi. Tất cả những cảnh trên đã diễn ra được một vài năm nay và đang xâm phạm đến di tích gò Cấu Nhi làm xấu cảnh quan khu vực thắng cảnh Hồ Tây và hồ Trúc Bạch. Và chỉ một phút sơ ý bất cẩn trong sinh hoạt, sử dụng, những nhà tạm trên bốc cháy sẽ thiêu trụi một hòn đảo xanh mang theo một di tích và một giai thoại lịch sử của Thăng Long xưa thành tro bụi.
Thiết nghĩ các cấp chính quyền địa phương cần can thiệp, kịp thời xử lý tình trạng xây dựng lều lán ở di tích trên. Theo chúng tôi, các cơ quan quản lý di tích, văn hóa cần sớm làm một số việc sau:
+ Khảo sát các di vật, đồ thờ trên đảo Cẩu Nhi, loại bỏ những hiện vật nhuộm màu sắc mê tín dị đoan, trả lại cho đảo một đền Cẩu Nhi theo đúng nghĩa của nó từ khi khởi dựng không lai tạp.
+ Dựng một tấm biển giới thiệu về di tích trên phần đất liền phía đường Thanh Niên cho mọi người dân được biết và có kế hoạch bảo vệ sử dụng di tích. Dẫu nó có mang trên mình những công trình, những đồ vật còn ngắn về thời gian sử dụng, về giá trị lịch sử nhưng bản thân gò Cẩu Nhi đã là một chứng tích lịch sử.
Hà Nội đang tiến dần tới mốc 1000 năm lịch sử, các di tích, chứng tích gắn liền với các truyền thuyết , giai thoại về Thăng Long – Đống Đa – Hà Nội cần được trân trọng gìn giữ. Hy vọng trong tương lai gần. Hồ Tây nói riêng và Hà Nội nói chung sẽ được trả lại một thắng cảnh vốn không còn vẹn nguyên để những buổi bình minh còn thấy được gò Cẩu Nhi xanh ẩn hiện trong làn sương mờ hồ Trúc Bạch.
KTS.Nguyễn Thanh Sơn – Xây Dựng/ Bộ xây dựng – Hà nội – 1998