Nhà ở Thủ đô nhấp nhô thăng trầm – Phần 1

Đã có thời quỹ nhà ở của Thành phố Hà Nội bị thiếu thốn nghiêm trọng, đó là vào những năm sau giải phóng. Để khắc phục tình trạng trên, Nhà nước đã dành những cố gắng cho công cuộc phát triển nhà ở. Trong khoảng thời gian năm 1956 – 1960 một số khu nhà ở một tầng như Ấn Dương, Phúc Xá, Mai Hương… đã được xây dựng và đưa vào sử dụng. Quan niệm hiện đại lúc đó về các khu nhà ở là chiều cao từ 2 đến 5 tầng. Mong muốn đó đã trở thành hiện thực vào những năm 1961 – 1965, việc xây dựng nhà ở của Hà Nội, có những bước tiến mới qua sự xuất hiện 2 khu nhà ở Nguyễn Công Trứ và Kim Liên với những căn hộ có diện tích bằng nhau trừ 2 căn hộ đầu hồi theo tiêu chuẩn phân phối 4 mét vuông cho một người. Để thể hiện nguyên tắc bình quân. Các khu phụ được sử dụng chung cho từng tầng để tăng cường sự đoàn kết, giao tiếp cộng đồng xã hội. Hình thức tập thể ở đây được thể hiện đến nỗi nhà nào làm gì, ăn gì…. Mọi người đều biết. Lúc đó mọi biểu hiện cá nhân đều bị hạn chế đến mức tối đa. Các căn hộ đều sử dụng chung hành lang, cầu thang, vòi nước, nhà vệ sinh. Khái niệm căn hộ khép kín dường như quá mơ hồ và thực sự chưa phát triển. Từ năm 1966 đến năm 1985, trên cơ sở rút kinh nghiệm qua thời kỳ trước việc xây dựng đã được phát triển mạnh mẽ, hoàn chỉnh hơn về cơ cấu theo kiểu tiểu khu: nhà ở và các công trình công cộng phục vụ đời sống. Cùng với sự giúp đỡ của các chuyên gia Liên Xô trước đây và Triều Tiên, các tiểu khu: Trung Tự, giảng Võ, Thanh Xuân Bắc…. được ra đời. Trong những khu nhà đó cấu trúc căn hộ đã thể hiện một phần nào sự khép kín, mỗi căn hộ thường có hai phòng ở diện tích là 24 đến 28 mét vuông, còn khu phụ và không gian riêng tư trong những khu nhà này chưa được coi trọng, thể hiện như các phòng ở liền kề có cửa sổ mở ra hành lang, ai đi ai về mọi người đều biết, ai làm gì trong nhà đi ngoài cũng hay, hành lang đó trở thành một loại ngõ trên cao gây ra bao nhiêu bất tiện và thời kỳ đó rồi cũng qua. Đến năm 1985 diện tích nhà ở của Hà Nội, có khoảng 4,2 triệu mét vuông. Trong đó có hơn 60% thuộc sở hữu nhà nước, phần còn lại là sở hữu tư nhân. Cùng lúc đó khả năng đầu tư của Nhà nước cho việc xây dựng nhà ở càng ngày càng thu hẹp trước đây dành mỗi năm khoảng 10% ngân sách cho đầu tư xây dựng nhà ở khiến cho việc bao cấp về nhà ở ngày càng trở thành gánh nặng vượt quá khả năng cung cấp của nền kinh tế. Do đó đòi hỏi phải có một phương sách mới phù hợp hơn và chính mới về nhà ở đã ra đời theo hướng phát huy mọi khả năng, mọi nguồn lực của các thành phần kinh tế để chăm lo việc phát triển quỹ nhà ở. Đó chính là công cụ hữu hiệu của Nhà nước để điều chỉnh lại các chủ đề cá nhân hoặc tổ chức trong quan hệ pháp luật về xây dựng. Những công việc trên chúng ta vẫn đang làm nhưng còn chưa đồng bộ và kém hiệu quả. Người kiến trúc sư giữ vai trò trong việc điều trị căn bệnh trên phải chăng họ là cầu nối giữa các chủ thể, một bên là chủ đầu tư, bên kia là cơ quan quản lý. Những gì bị dồn nén về nhà ở thời kỳ bao cấp nay bung ra dường như muốn phá tan cái chung, cái tập thể để khẳng định cái tôi của mỗi người, mỗi gia đình. So với thời gian trước, điều kiện ở của một bộ phận dân cư Hà Nội đã được cải thiện rõ rệt nhưng khung cảnh đường phố, đô thị thì càng ngày càng nông thôn hóa.
Nguyễn Thanh Sơn – xây dựng/Bộ xây dựng – Hà nội –TBV13-(49)1999.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *