Thành tựu 30 năm và những định hướng tương lai- phần 1

Ba mươi tuổi đối với một Trường đại học kiến trúc Hà Nội là quá trẻ. Trong điều kiện đất nước ta chiến tranh kéo dài, Đảng và nhà nước đã luôn quan tâm tới việc đào tạo đội ngũ xây dựng tương lai. Từ năm 1961 bộ kiến trúc đã mở lớp đào tạo kiến trúc sư đầu tiên với 93 sinh viên. Sau đó, kể cả trong những năm chiến tranh ác liệt ở miền Bắc đều có tuyển sinh và đào tạo kiến trúc sư. Đến năm 1967, ngành kiến trúc và đô thị trong điều kiện sơ tán trở thành một khoa tại trường đại học xây dựng. Và tới năm 1969, khi nhu cầu và điều kiện đào tạo đã nâng cao hơn. Thủ tướng chính phủ đã quyết định thành lập Trường đại học kiến trúc Hà Nội nay là bộ xây dựng. Phó tiến sĩ Vương Quốc Mỹ lúc đó là thứ trưởng bộ kiến trúc, đồng thời là hiệu trưởng đầu tiên của Trường đại học kiến trúc Hà Nội. Buổi đầu thành lập trường mới có khoảng 600 đến 700 sinh viên thuộc hai khoa kiến trúc và đô thị, với khoảng 100 cán bộ giáo viên và các bộ công nhân viên. Trải qua những năm tháng đầy khó khăn của thập kỷ 70 và đầu những năm 80 nhà trường vẫn luôn đảm bảo nhiệm vụ đào tạo và không ngừng phát triển. Đến nay nhà trường đã phát triển với gần 9000 sinh viên theo học 4 ngành kiến trúc công trình, kiến trúc quy hoạch, kiến trúc đô thị và môi trường, xây dựng. Và trên 8 địa điểm đào tạo trong phạm vi cả nước như Thủ Đức, Thành Phố Hồ Chí Minh, Vinh, Huế, Xuân Hòa, Vĩnh Phúc, Hạ Long, Hải Phòng, Uông Bí,… Đội ngũ giáo viên phát triển tới 360 giáo viên người, chưa kể hàng trăm giáo viên kiêm chức và thỉnh giảng, trong đó có 50% có trình độ trên đại học, 1 nhà giáo nhân dân, và 23 nhà giáo ưu tú. Đến nay nhà trường đã có 5 khoa và 3 trung tâm đào tạo trong đó có khoa đào tạo trên đại học hiện có trên 200 học viên cao học và hơn 60 học nghiên cứu sinh. Về đào tạo nhà trường luôn chú trọng tới việc đổi mới chương trình, mục tiêu, phương pháp và trang thiết bị, với trang thiết bị có giá trị đầu tư chiều sâu tương đương 3 triệu đô la Mỹ, trong đó bao gồm các phòng thí nghiệm vi khí hậu, nước và môi trường, kỹ thuật xây dựng, và kết cấu công trình… các phòng vẽ, xưởng thiết kế được trang bị máy vi tính và máy vẽ, ti vi và video, hệ thống thư viện và tư liệu học tập đang được nâng cấp theo xu hướng nối mạng và vi tính hóa. Các lớp lý thuyết được trang bị micro, máy đèn chiếu, máy chiếu qua vi tính… Các lớp vi tính và ngoại ngữ được bổ sung và trang bị ngày càng hoàn chỉnh hơn. Đồng thời với việc chú trọng nâng cao chất lượng trường còn kết hợp thực hiện nhiệm vụ chính trị của ngành là đào tạo theo vùng, đào tạo tại chỗ cho các địa phương có nhu cầu. Để thực hiện tốt việc đó, nhà trường đã phối hợp chặt chẽ với các cơ sở đào tạo địa phương, quản lý chất lượng từ khâu tuyển sinh đến quá trình dạy và học theo đúng quy chế và chương trình chuẩn, ưu tiên trong việc cử các cán bộ giáo viên trình độ cao học đi các điểm ngoài trường, tạo mọi điều kiện để cơ sở đảm bảo chất lượng đào tạo, mặc dù còn có khó khăn nhưng hiện nay vẫn tổ chức cho các lớp năm cuối cùng về học tại Hà Nội để hoàn thiện kiến thức và làm đề án tốt nghiệp. 
Trịnh Hồng Đoàn- Xây dựng – Bộ xây dựng – Số 37 (78) năm 1999

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *