Một đội ngũ trí thức được tôi luyện, giàu tài năng khoa học và nghệ thuật – Phần 1

Vào một ngày đẹp trời đầu tháng 4 năm 1948 tại chiến khu Việt Bắc rừng xanh ngút ngàn, gió lạnh, sương bay đã diễn ra một sự kiện trọng đại: Tổ chức Kiến trúc sư Việt Nam chính thức ra đời, lấy tên là Đoàn kiến trúc sư Việt Nam. Thành viên của Đoàn gồm các kiến trúc sư (KTS), những nhà tri thức yêu nước được đào tạo tại Đông Dương Học Xá đã thành danh, tên tuổi của họ được nhiều người biết đến đó là các kiến trúc sư: Nguyễn Cao Luyện, Hoàng Như Tiếp, Nguyễn Văn Minh, Hoàng Linh, Phạm Hoàng, Tạ Mỹ Duật, Nguyễn Gia Ninh, Nguyễn Nghi, Đàm Trung Lãng, Đàm Trung Phường, Ngô Huy Quỳnh, Nguyễn Văn Trân v.v… Họ là những người xây nền móng cho Hội kiến trúc nước nhà. Từ đó đến nay, sự nghiệp phát triển nền kiến trúc đất nước gắn liền với sự nghiệp Cách mạng.
Ngay sau ngày thành lập, các kiến trúc sư đã được tung đi mọi nẻo đường kháng chiến để lo liệu xây dựng khu căn cứ, các cơ sở của Bộ chỉ huy kháng chiến, làm công tác tuyên truyền văn hóa cho bọ đội và đồng bào nơi chiến khu. Đặc biệt, họ đã góp phần tạo ra cơ sở vật chất phục vụ Đại hội Đảng Lao động Việt Nam (tháng 3 – 1951) thành công tốt đẹp. Biết bao địa danh cách mạng khác gắn liền với công trình như nhà ở Bác Hồ tại Việt Bắc, nhà họp Quốc dân đồng bào… tuy kết cấu công trình đều là tre nứa đơn sơ nhưng 2 tên tuổi của nó đã đi vào lịch sử.
Sau hòa bình lập lại 1954, với phương châm: Thích dụng bền vững, tiết kiệm và mỹ quan trong điều kiện có thể” các Kiến trúc sư đã thiết kế nhiều công trình lớn của đất nước được xây dựng như: Quảng trường, Hội trường Ba Đình, cơ quan làm việc của các bộ như Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, Tổng cục thống kê, Văn phòng Bộ Xây dựng, các trường đại học Thủy lợi, đại học sư phạm, các khu nhà ở tập thể Kim Liên, Nghĩa trang liệt sĩ Mai Dịch, trường trung cấp Kiến trúc Hà Nội, nhà bảo tàng các dân tộc Thái Nguyên, nhiều bệnh viện, trường học, khu công nghiệp Việt Trì, nhà trẻ công viên Thống Nhất ra đời. Hầu hết các tỉnh đều xây dựng trụ sở Ủy ban nhân dân, hội trường, nhà bảo tàng…
Sau năm 1965 giặc Mỹ lao thang chiến tranh ra miền Bắc, 2 lớp Kiến trúc sư khóa I, khóa II ra trường và một số Kiến trúc sư được đào tạo từ các nước xã hội chủ nghĩa trở về đã bổ sung một lực lượng Kiến trúc sư đáng kể, sát cánh cùng với lớp đàn anh trước đây phục vụ trên các mặt trận xây dựng kiến quốc cũng như phục vụ quốc phòng. Trong giai đoạn này, hàng loạt các công trình mới được xây dựng tại Hà Nội và ở các tỉnh tại các khu sơ tán như nhà làm việc, bệnh viện, trường học, đặc biệt là hệ thống hầm chống bom trực tiếp, các công trình chỉ huy phục vụ chiến đấu. Giai đoạn này nhiều Kiến trúc sư đã khoác ba lô trên vai cùng các họa cụ cần thiết vào chiến trường. Đặc biệt Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát đã rời Sài Gòn ra vùng giải phóng xây dựng khu căn cứ địa kháng chiến, ông còn là nhà lãnh đạo cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc ta và sau khi nước nhà thống nhất ông là Chủ tịch Hội kiến trúc sư Việt Nam.
PV – Xây Dựng/ Bộ xây dựng – Hà nội – số 38 -1998

Kỳ họp thứ 4 – Quốc hội khóa 10 thành công tốt đẹp

Cần kiệm xây dựng đất nước… tiết kiệm một cách nghiêm ngặt trong đầu tư xây dựng cơ bản
Sau hơn một tháng làm việc tích cực, khẩn trương với tinh thần trách nhiệm cao, chiều 12 – 12 – 1998, Quốc hội đã họp phiên bế mạc hoàn thành tốt đẹp chương trình làm việc.
Quốc hội đã biểu quyết thông qua Nghị quyết về nhiệm vụ năm 1999 với tỷ lệ tán thành rất cao. Để đạt được những mục tiêu của năm 1999, Nghị quyết đã đề ra những nhiệm vụ và giải pháp chính. Riêng về đầu tư phát triển, Nghị quyết nhấn mạnh: phát huy mạnh các nguồn vốn trong dân để đầu tư vào sản xuất, kinh doanh. Ban hành chính sách ưu đãi đặc biệt đối với mọi trường hợp đầu tư không dựa vào nguồn vốn Nhà nước kể cả đầu tư nước ngoài. Đẩy nhanh việc đàm phán và triển khai đầu tư các công trình quan trọng trong các ngành điện, than, dầu khí để bảo đảm sự tăng trưởng bền vững, tạo nguồn nội lực mới cho giai đoạn sau năm 2000. Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) được tập trung cho pháp triển nông nghiệp và nông thôn, hạ tầng cơ sở và các mục tiêu giáo dục, y tế, xã hội. Cải tiến việc quản lý ODA nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng và bảo đảm khả năng trả nợ. Ban hành chính sách tạo điều kiện cho nhân dân làm nhà ở, nhất là đối với cán bộ công nhân viên và người có thu nhập thấp. Chính phủ sớm rà soát, có các quy định về quản lý đầu tư, xây dựng nhằm khắc phục tình trạng quản lý không chặt chẽ để xảy ra thất thoát, lãng phí và không bảo đảm chất lượng công trình, khắc phục việc phân công, phân cấp chưa hợp lý, thủ tục phiền hà. Thực hiện công khai hóa các dự án đầu tư. Giám sát, kiểm tra nghiêm ngặt việc thực hành tiết kiệm trong đầu tư xây dựng cơ bản, trước hết từ khâu xem xét, quyết định chủ trương và quy hoạch đến việc xác lập và xét duyệt các dự án đầu tư.
Quốc hội cũng thông qua chương trình xây dựng 127 văn bản pháp luật trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa 10, trong đó có 52 luật, 52 pháp lệnh và 23 dự án luật dự bị. Theo kế hoạch này, dự án Luật xây dựng vẫn chưa được đưa vào chương trình làm việc của kỳ họp thứ 5 (tháng 4 – 1995) và thứ 6 (tháng 10 – 1999).
Tin đọc nhanh
Ngày 1 – 2 – 1998 tại trụ sở Bộ xây dựng, Giáo sư, tiến sĩ Nguyễn Mạnh Kiểm, Bộ trưởng Bộ xây dựng đã tiếp đoàn đại biểu Đảng cộng sản Pháp, do đồng chí Jean Paul Magon, Ủy viên ban thường vụ, Bí thư Trung ương Đảng dẫn đầu đang ở thăm Việt Nam, theo lời mời của Trung ương Đảng ra.
Thêm 8 nhóm mặt hàng được đưa vào danh mục hàng thay thế nhập khẩu gồm các mặt hàng về khí công nghiệp, khí hỗn hợp, khí y tê,s khí nhiên liệu….: que hàn inox, ống gang cầu các loại; máy nén khí, máy sấy khô không khí, hình nén khí lạnh, bình áp lực, máy đếm tiền, máy soi tiền, máy đóng chứng từ các loại; thuốc nhuộm, chất trợ nhuộm cho vải sợi; vật liệu composit.
Công ty xây dựng 203, Tổng công ty xây dựng Bạch Đằng sẽ khởi công xây dựng khu biệt thự Việt Nam tại Okinawa (Nhật Bản) vào tháng 1 – 1999. Đây là công trình phục vụ kinh doanh du lịch của công ty Daito Engineering Co. Ltd Nhật Bản thuê Việt Nam từ thiết kế đến thi công xây dựng hoàn chỉnh toàn phần với giá trị nhân công khoảng 450.000 USD. Phần vật liệu chủ yếu dùng cho công trình này như gạch ngói, gạch đá ốp lát, gỗ cao cấp cũng sẽ được sản xuất trong nước.
Lại Thanh Bình – Xây Dựng/ Bộ xây dựng – Hà nội – số 38 -1998

Máy in

Máy in là thiết bị ngoại vi không thể thiếu trong một hệ thống máy tính tiêu chuẩn. Tuy khác nhau về kích thước, hình dáng, công nghệ in, và các đặc trưng kỹ thuật, nhưng mọi máy in vi tính đều là thiết bị sao chép các thông tin ở lối ra máy tính thành các bản sao trên giấy.
Như vậy, trước hết máy in sẽ không làm được gì cả nếu không có một máy tính cung cấp dữ liệu in và các tín hiệu điều khiển; phải thiết lập một đường dây trao đổi thông tin giữa máy tính và máy in. Để có thể làm việc với một máy tính bất kỳ, máy in phải tương thích với nhiều giao diện trao đổi thông tin chuẩn đã được xây dựng trước. Máy in phải có khả năng in trên nhiều loại giấy khác nhau, nhiều kích cỡ giấy khác nhau, kể cả đồ họa. Nó phải trao đổi, xử lý và in ra các thông tin với tốc độ nhanh, độ tin cậy cao, và thời gian liên tục. Cuối cùng máy in phải dễ dàng sử dụng, các tính năng phong phú, và dễ tìm các vật liệu thay thế như mực, huy băng v.v…
Một số các đặc tính và thông số kỹ thuật cơ bản:
Tùy theo từng hãng sản xuất và công nghệ khác nhau mà các thông số kỹ thuật của máy in khác nhau mà các thông số kỹ thuật của máy in cũng được liệt kê theo những tiêu chuẩn khác nhau. Tuy vậy thông thường một máy in được đánh giá theo các thông số: nguồn điện tiêu thụ, giao diện, sự tương thích, khả năng in, các đặc tính in, độ tin cậy và tuổi thọ danh định, điều kiện môi trường xung quanh, và cuối cùng là hình dáng, kích thước, trọng lượng máy.
Nguồn điện tiêu thụ: Cũng như các thiết bị điện tử khác, máy in cần tiêu thụ năng lượng điện để làm việc. Điện áp tần số và công suất là các thông số điển hình về điện. Phổ biến hiện nay các máy in ở Việt Nam đều sử dụng điện áp 220 V. Công suất điện khi in thường khoảng 60 – 70 W đối với máy in kim và trên 200 W đối với máy in laser. Loại máy in tiết kiệm năng lượng là loại máy chỉ được tiêu thụ dưới 45 W khi máy không in.
Khả năng in: Khả năng in thực chất là một tập hợp các thông số liên quan đến các thao tác cơ học của máy in. Các thông số đó gồm: Số ký tự trên mỗi dòng (characters per line – cpl), số ký tự trong một giây (character per sercon – cps), cỡ chấm (dot configuration) vv… trong đó không số cỡ chấm được quan tâm nhiều nhất.
Cỡ chấm là thông số thực chất cho biết kích thước vật lý của mỗi chấm in trên giấy. Nó cũng được coi như mật độ chấm (dot pich), độ phân giải (resution). Thông thường, độ phân giải thường được đặc trưng bằng số chám mối inch (dot per inch – dpi). Đây là thông số cho biết số lượng điểm rời rạc cao nhất mà máy in có thể đặt vào trong một inch chiều dài của đường kẻ ngang trên trang in. Các máy in cấp thấp có khả năng in 300 dpi, máy in laser tốt có thể in 600 dpi, còn máy in chuyên dụng tốt nhất có thể in 1200 dpi. Thông dụng hiện nay là các máy in laser HP 5l, 6l có độ phân giải 600 dpi.
Độ tin cậy và tuổi thọ danh định: Thông số về độ tin cậy và tuổi thọ cho biết khoảng thời gian mà máy in còn có thể hoạt động đúng theo các chỉ tiêu chất lượng danh định, thường được biểu thị theo số trang in, theo thời gian hoặc theo số lượng ký tự in. Ví dụ, một đầu in kim tiêu chuẩn có tuổi thọ in hơn 100 triệu ký tự.
Các thông số về vật lý: Là các thông số về môi trường cho biết những điều kiện vật lý phù hợp để máy in hoạt động được bình thường. Nhiệt độ bảo quản và nhiệt độ làm việc là 2 điều kiện thường hay xét đến của môi trường xung quanh. Theo quy tắc chung, khi lấy máy mới từ thùng ra, hãy để trong điều kiện nhiệt độ và độ ẩm thực tế của phòng khoảng vài giờ rồi hãy sử dụng. Độ ẩm tương đối thường cho phép từ 10% đến 90% trong quá trình bảo quản, nhưng chỉ giới hạn trong khoảng từ 30% đến 80% khi làm việc. Chú ý, các giới hạn độ ẩm này là các giá trị không ngưng tụ, nghĩa là hơi nước không được đọng lại thành dạng lỏng. Nước đọng trong máy in sẽ làm hỏng mô tơ và các mạch điện tử.
Cuối cùng, các thông số của máy còn bao gồm kích thước (ba chiều) trọng lượng và mức độ gây ồn. Đối với kích thước máy, bạn cần chú ý hình chân đế của máy in vì đây là khoảng diện tích mà máy in sẽ chiếm chỗ trên giá máy hoặc trên mặt bàn các bạn.
PV – Xây Dựng/ Bộ xây dựng – Hà nội – số 37 -1998

Kỷ niệm 50 năm hội kiến trúc sư Việt Nam (1948 – 1998)

Hội kiến trúc sư Hà Tây góp phần kiến tạo quê hương
Cùng với các tỉnh, thành phố bạn, ở Hà Tây, kể từ sau năm 1965, bắt đầu có hàng loạt kiến trúc sư ra trường. Tuy lực lượng còn non trẻ, nhưng các kiến trúc sư tỉnh nhà đã bắt nhịp cuộc sống xây dựng trên địa bàn, hàng loạt các công trình trụ sở, cơ quan, trường học, đặc biệt là trường cấp 3 Sơn Tây một công trình mới và cho đến hôm nay vẫn chưa lạc hậu đã ra đời, tiếp theo là các bệnh viện, nhà trẻ, các khu dân cư, công trình văn hóa xã hội như: Hội trường tỉnh, các khu làm việc và chỉ huy tại các vùng sơ tán, đặc biệt nhiều công trình quan trọng của tỉnh ủy, ủy ban tỉnh tại Phương Bảng, Lại Yên, Sài Sơn, Đào Nguyên, La Tinh, Cộng Hòa, Chùa Tổng được thiết kế và xây dựng… Phối hợp với các ngành kinh tế xã hội khác đã thiết kế xây dựng nhiều công trình công nghiệp như như công nghiệp xi măng, các nhà máy gạch ngói, các kho lương thực, các cửa hàng bách hóa trong toàn tỉnh, phục vụ trong cuộc cách mạng, góp phần ổn định và phát triển cuộc sống của nhân dân trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đầy khó khăn. Trong thời gian cuộc kháng chiến đi vào giai đoạn quyết định, một số kiến trúc sư Hà Tây được bổ sung vào chiến trường, trực tiếp thiết kế và chỉ đạo xây dựng các khu căn cứ, chỉ huy tác chiến của các trung đoàn, sư đoàn và quân đoàn, góp phần phục vụ tốt hơn sự lãnh đạo chỉ đạo các cấp quân đội, đưa cuộc kháng chiến mau đến thắng lợi hoàn toàn.
Hiện tại, lực lượng kiến trúc sư Hà Tây cũng vào khoảng 20 người gồm đủ các thế hệ được đào tạo nghiêm chỉnh, vững vàng về trình độ và phẩm giá. Với lực lượng tuy còn nhỏ bé, xong đã thiết kế nhiều công trình trụ sở làm việc của các cơ sở quan cấp tỉnh và các trụ sở huyện ủy, ủy ban nhân dân huyện, khang trang to đẹp, đạt được trình độ phẩm mỹ cần thiết. Một số bệnh viện, trường học, nhà trẻ, vườn hoa cây xanh, khu văn hóa thể thao… thường đã được xây dựng. Các kiến trúc sư đã trực tiếp thiết kế các đồ án quy hoạch thị trấn, thị tứ và quy hoạch ngày đang bắt đầu được thực hiện, trong đó có quy hoạch thị trấn có giá trị tốt như thị trấn Phú Thọ… đáng chú ý là một số công trình xây dựng giai đoạn này như công viên Nguyễn Trãi, trụ sở giáo dục, công trình cải tạo nhà, làm việc sở xây dựng đã đạt được giá trị thẩm mỹ và sử dụng cần thiết.
Hội kiến trúc sư Hà Tây là thành viên của Hội kiến trúc sư Việt Nam, đồng thời là thành viên Hội Văn học nghệ thuật của tỉnh. Hội được ủy ban nhân dân tỉnh giao trọng trách là thành viên chính của Hội đồng kiến trúc quy hoạch của tỉnh. Bằng chuyên môn nghề nghiệp của mình, họ đã tích cực làm tham mưu giúp tỉnh, từng bước lấy lại trật tự và nâng cao tính thẩm mỹ hoàn thiện, đồng bộ trong thiết kế quy hoạch và xây dựng, đưa bộ mặt kiến trúc quy hoạch các đô thị Hà Tây từng bước phát triển trong giai đoạn mới, ngang tầm với các tỉnh bạn.
Kiến trúc sư Nguyễn Địch Long – Xây Dựng/ Bộ xây dựng – Hà nội – số 37 -1998

Tại kỳ họp thứ tư (Quốc hội khóa X) – Phần 2

Còn vấn đề dạy thêm, học thêm, nhức nhối này dân và báo chí đã kêu quá nhiều, để tránh ảnh hưởng xấu cho ngành giáo dục và đào tạo, Luật nên có quy định cụ thể thành điều CẤM hẳn hoi vì nếu đã học theo chương trình chuẩn, dạy có chất lượng thì không cần thêm nữa, trừ việc duy trì trường bán trú, nhưng các trường này phải chịu trách nhiệm trước Nhà nước về chất lượng đào tạo, bởi thế nên điều chỉnh, bổ sung một số điều trong luật mới.
Sau nữa, tôi nhất trí với các ý kiến vừa phát biểu: Không nên có điều quy định trong chương II về lương giáo dục vì đã quy định trong luật là phải thực hiện, thực hiện nhiều năm. Việc quy định xếp lương giáo viên là cao nhất trong sự nghiệp hành chính là không bảo đảm công bằng xã hội, nhất là khi so với các ngành như Công an, quân đội, chỉ nên xếp trong Luật là: Nhà nước nên thực hiện các chính sách về tiền lương ở mức thuộc loại cao nhất trong ngành giáo dục. Cũng không nên để trong Luật, quy định hàng năm ngân sách Nhà nước dành cho giáo dục không dưới 15% mà chỉ nên nói Nhà nước ưu tiên ngân sách hàng đầu cho giáo dục bởi nguồn tăng thu ngân sách biến động thường xuyên, ngành giáo dục lại đòi chiếm phần cố định là không hợp lý.
Không nên ghi vào Luật sinh viên sư phạm được miễn học phí, được học bổng 100% để tránh tình trạng sau 5 năm nữa, số thầy, cô giáo đủ sẽ rất khó về kinh phí giải quyết. Cũng không nên quy định Nhà nước có chính sách ưu tiên và nhà ở cho giáo viên, vì quỹ đất là cố định nên không thể có chế độ cấp đất được vì đã là luật thì phải thi hành nghiêm, tránh trói tay Quốc hội, trói tay Chính phủ bởi những điều không thể thực hiện.
Ông Hữu Thỉnh, Đại biểu quốc hội tỉnh Bến Tre:
Trong dự thảo trình Quốc hội kỳ họp này, Luật giáo dục nói về những nguyên lý chung, về giáo dục, nghề giáo và người học khá rõ. Nhưng phần nói về nội dung giáo dục về chương trình, về sách giáo khoa, giáo trình thì chưa rõ, chưa thỏa đáng. Dạy như thế nào là rất quan trọng nhưng dạy cái gì còn quan trọng hơn nhiều.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương khóa VIII về giáo dục và đào tạo là một định hướng chiến lược hết sức quan trọng đang được thể chế hóa để nghị quyết đi vào đời sống. Thực hiện nghị quyết có nghĩa là trong những việc đó, theo tôi là cần có một cách nhìn toàn diện, đánh giá thực chất để rút ra được những bài học kinh nghiệm quý báu từ thực tiễn 10 năm đổi mới của ngành giáo dục và đào tạo. Trong chúng ta, ai mà chẳng đã từng là học sinh, sinh viên, cho đến lúc trưởng thành, dấu ấn về những thầy, cô giáo không những không mờ đi mà càng như đậm thêm. Vạn sự thành bại trong nhà trường, tôi nghĩ đến vai trò của các thầy, các cô. Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, giảng viên, đội ngũ quản lý giáo dục là biện pháp hàng đầu để nâng chất lượng giáo dục. Không phải không có lý khi cha mẹ đưa con tới trường, đều nói: “Chúng tôi có công đẻ, công nuôi dưỡng cháu, còn cháu có thành người hay không là trông cậy ở các thầy, cô giáo”. Xét ra, lời gửi gắm đó không thật hoàn toàn đúng và đủ nhưng chắc chắn là không sai.
Lại Thanh Bình – Xây Dựng/ Bộ xây dựng – Hà nội – số 37 -1998

Tại kỳ họp thứ tư (Quốc hội khóa X) – Phần 1

Các đại biểu quốc hội nêu rõ “Luật giáo dục cần bảo đảm sự công bằng, hợp lý và mang tính khả thi”
Ông Tào Hữu Phùng – Đại biểu quốc hội tỉnh Hà Tây:
Ý kiến của hầu hết các đại biểu Quốc hội là không nhất trí với quy định khi trong dự thảo Luật giáo dục “Hàng năm ngân sách Nhà nước dành cho ngành Giáo dục không dưới 15%”, không nhất trí với việc tổ chức cấp học: giáo dục thường xuyên và vấn đề dạy thêm, học thêm.
Dự thảo Luật Giáo dục lần này đã tham khảo, bổ sung được nhiều ý kiến của các cử tri. Tuy nhiên, nhìn tổng thể, Luật vẫn còn nhiều nhược điểm. Trước hết, qua dự thảo thấy giáo dục (GD) của chúng ta chưa tiến tới được tầm hiện đại, hội nhập. Sau nữa, vấn đề quan trọng là tăng cường sự quản lý Nhà nước với ngành giáo dục cũng như những giải pháp để nâng tầm nước ta với khu vực và thế giới, dự thảo Luật chưa đề cập đến mà chỉ nặng về đòi hỏi chính sách của Nhà nước với giáo dục. Nói đúng hơn, tư tưởng chỉ đạo còn gò ép trong một số thủ tục hành chính đơn giản, chưa có tầm chiến lược về định hướng giáo dục là quốc sách hàng đầu. Trước hết về tên gọi, để tên luật giáo dục và đào tạo là hợp lý vì như vậy bao quát hơn. Tuy nhiên, luật giáo dục phải chi phối tất cả các ngành, các cấp… Sau nữa, theo tôi không nên để hệ thống giáo dục thường xuyên bởi những nhức nhối, tiêu cực nhất của ngành giáo dục xảy ra đa số là ở mảng này mà nên để giáo dục thị xã gắn với các cấp đào tạo để tránh giả mạo giấy tờ. Về các loại hình đào tạo, thực ra tại chức hay chính quy chỉ là ở tên gọi còn nội dung nhất thiết phải thống nhất theo một chương trình chuẩn. Ngành giáo dục và đào tạo chỉ nên có một Vụ duy nhất là Vụ Đại học và việc cấp bằng cũng nên để Vụ này đảm nhận luôn, việc cấu tạo các vụ tách rời nhau như hiện nay ở ngành giáo dục và đào tạo là không hợp lý, không đúng chuyên môn.
Tôi cũng không tán thành xếp nhà trẻ trong hệ giáo dục quốc dân vì đặc thù lứa tuổi. Để đỡ gánh nặng ngân sách nên xã hội hóa bằng cách thức bán công để toàn dân chăm sóc lứa tuổi này. Bởi đã nghèo ngân sách thì không nên “ôm” bao cấp lớn và thực tế là cũng không đạo lý nếu xếp ngạch này như hiện này. Nhược điểm này nên sửa lại hợp lý.
Vấn đề đào tạo sau Đại học: Nên có sự phân biệt chuyên ngành trong hàm học vị như tiến sĩ khoa học hoặc tiến sĩ cấp cao, muốn vậy Chính phủ nên có những văn bản dưới luật hướng dẫn cụ thể. Mặt khác, phải thấy được chất lượng đào tạo là vấn đề quan trọng nhất trong giáo dục và đào tạo và muốn đào tạo được một đội ngũ cán bộ khoa học có tài năng thật sự, Luật giáo dục nên có những quy định chặt chẽ để đào tạo có chất lượng, tránh sự đào tạo ồ ạt, không bảo đảm chất lượng như thời gian qua, rất tai tiếng. Đồng thời, đào tạo phải theo một nội dung thống nhất, chuẩn cho từng ngạch họ. Trong luật này, Bộ giáo dục và đào tạo cũng nên thiết kế được một chương trình chuẩn hóa gọi là chuẩn quốc gia, tạo môi trường bình đẳng giữa các trường, nhất là giữa bán công và trường công lập.
Lại Thanh Bình – Xây Dựng/ Bộ xây dựng – Hà nội – số 37 -1998

Những ngày đầu khởi Nghiệp

Mùa thu năm 1958 tôi tới Sài Gòn hỏi thăm vào nhà cụ Tân, gặp Ban chỉ huy công trường xây dựng xí nghiệp xi măng, để liên hệ cho đoàn học sinh trường Trạng Bùng (Thạch Thất) xuống thăm quan phong trào lao động của công nhân, bổ xung cho chương trình ngoại khóa về công nghiệp địa phương.
Các anh Nguyễn Hùng, Đỗ Huỳnh Tâm, Trần Ngọc Duyệt và ở ban Kiến thiết đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ chúng tôi. Chỉ sau 3 ngày xí nghiệp cắt băng khánh thành (28 – 11 – 1958) tôi cùng 3 đồng chí giáo viên giữa hướng dẫn cho hơn 70 học sinh về nhà máy thăm quan. Tôi nhớ như in, khu sản xuất lúc đó là 5 dãy nhà tre gỗ, mái ngói xi măng. Sân là một bãi rộng phơi đất sét đỏ quạch, kề sân phơi là dãy nhà có 5 cái cối giã gạo loại to đùng để giã đất. Các anh Nguyễn An, Nguyễn Hội ở Tổng cục Hậu cần đang theo dõi chỉ đạo sản xuất, dẫn chúng tôi vừa đi vừa tâm sự:
“Đất nước ta đang bị chia cắt, Mỹ – Ngụy đang gây chiến tranh, việc làm ra xi măng để phục vụ quốc phòng là hết sức cần thiết. Thiết bị để sản xuất chúng ta chưa có thể mua được. Quân đội thì quyết tâm cao, Chính phủ động viên khích lệ, chúng tôi phải tìm hướng sản xuất theo cách của mình. Phương tiện sản xuất ban đầu mà các anh đã nhìn thấy là 5 chiếc lò vôi cũ sạt lở và một tí búa, ít choong…
Để thực hiện công việc, Ban kiến thiết sang Gia Lâm mua gạch chịu lửa về lát lòng lò vôi, nhằm nâng cao nhiệt lượng để nung clinker. Một tốp khác xuống nhà máy cơ khí Duyên Hải (Hải Phòng) để mua sắm một số thiết bị. Đồng thời một loạt bể khoắng vôi, lắng đất được xây lên.
Anh Ngô Thân, một cán bộ quân đội miền Nam tập kết, là người phụ trách quy trình chế tác xi măng đã kể về cách thức pha trộn. Lúc đầu là đất sét đào lên phơi khô, giã nhỏ rồi lấy sàng, lấy dần làm búa để dần, sàng cho nhỏ mịn. Đá nung thành vôi, đưa vào bể tôi, rồi cũng lọc qua mắt dần, sàng để gạn sạn. Sau cho sữa vôi và đất giã theo định lượng vào bể khoắng dùng cào, cuốc, dùng vồ lấy sức người mà du qua, giật lại cho thật nhuyễn chẳng khác gì người phụ hồ luyện vữa xây nhà. Nếu thấy chưa nhuyễn thì công nhân đi ủng lội vào giẫm, đạp cho đống hỗn hợp vôi + đất + than thật dẻo, thật giấu, sau mới đưa ra đóng “oản”. Đóng “oản” là thao tác đưa hỗn hợp vôi + đất + than vào khuôn. “Oản” đóng xong bày lên nong đưa ra bãi cả phơi. Gặp khi trời nắng thì mới đưa vào nung làm clinker.
Đốt lò nung clinker cũng chẳng khác gì đốt lò vôi. Nhưng đáng lưu ý là nhiệt độ phải luôn luôn cao. Vất vả nhất của việc đốt lò là không may vớ phải mẻ củi chưa khô, than ướt, hay đang đốt mà trời tắt gió hoặc đổ mưa thì thật là khốn đốn. Lửa trong lò không đủ nhiệt thế là lại phải huy động công nhân đem quạt mo ra thay nhau quạt. Nung được clinker rồi cũng không có mấy nghiền lại phải đưa vào.
Khi tôi trở về không khí sản xuất vẫn hối hả, các lò nung ngùn ngụt khói. Đi một vòng qua các phân xưởng như người đi xa mới trở về nhà. Tôi hỏi thăm những người cũ, đã nhiệt tình hướng dẫn cho thầy trò tôi thăm quan… người còn, người mất, người khoác súng lên đường đi chiến đấu ở miền Nam. Trong lòng tôi trào lên những nỗi xốn xang, bồi hồi nhớ lại ngày đầu lập nghiệp.
Về Sài Gòn lúc ấy cơ cấu tổ chức nhà máy cũng có nhiều thay đổi, Tổng cục Hậu cầu quân đội không quản lý xí nghiệp nữa mà đã bàn giao sang Ty công nghiệp tỉnh Sơn Tây. Xí nghiệp cũng có bước phát triển mới. Khu vực sản xuất có máy phát điện 150 KVA để thắp sáng, chạy quạt máy tiếp gió cho lò nung, máy nghiền bi công suất 0,5 tấn/ giờ do cơ khí Duyên Hải chế tạo để nghiền clinker thay thế cho bàn đạp chân, cối giã và bàn nghiền xa luân của những năm đầu. Hệ thống lò nung được cải tạo lại nâng cao sức chứa, sức nóng. Nhiều sáng kiến cải tiến kỹ thuật trong Cán bộ công nhân được áp dụng vào sản xuất. Điển hình là sáng kiến đưa guồng nước công nghiệp để vào guồng hỗn hợp đất và phụ gia từ bể chứa lên lò nung. Sáng kiến này tạo tiền đề cho xí nghiệp chuyển đổi phương pháp sản xuất xi măng từ công đoạn đóng “oản” sang công nghệ ướt. Sáng kiến này tiết kiệm được nhân công và sự hao phí nguyên vật liệu, năng suất cao hơn, chất lượng tốt hơn.
Do ảnh hưởng lớn của cuộc chiến tranh, nguyên vật liệu cho sản xuất thiếu thốn, giao thông cách trở, cái sống và cái chết ở nhà máy có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Tập thể cán bộ và công nhân ở đây vẫn ngà đêm bám xưởng, bám lò bất chấp mọi khó khăn và sản phẩm vẫn đến với các công trình xây dựng. Giai đoạn này phương án sản xuất thích ứng thời chiến đã được vạch ra. Các bộ phận được phân tán nhỏ lẻ ra nhiều nơi, xây dựng cơ sở hậu bị đề phòng chiến tranh diễn biến phức tạp. Nhờ chuẩn bị tốt cho sản xuất và sẵn sàng chiến đấu, xí nghiệp vẫn giữ vững được sản phẩm 5 năm liền từ 1972 đến 1976 liên tục hoàn thành kế hoạch và được nhà nước tặng thưởng nhiều Huân chương…
Trải qua 40 năm, một nhà máy được xây dựng từ khói lửa chiến tranh, dày dạn ở một chặng đường lịch sử, với đội ngũ công nhân có mặt kể từ ngày đầu khởi nghiệp hôm nay người mất người còn và rất nhiều người đã nghỉ hưu, công sức của các anh các chị đang được thế hệ kế tiếp trân trọng phát huy. Nhân ngày lễ kỷ niệm 40 năm thành lập Công ty, một cơ sở sản xuất xi măng địa phương đầu tiên của nước nhà, tôi xin thay mặt con cháu thắp một tuần hương trước anh linh của những người quá cố từng gắn bó một thời với đơn vị. Xin các anh, các chịu tiếp tục phù hộ cho nhà máy của chúng ta càng vững mạnh lên trong cơ chế thị trường.
Trọng Tiến –Xây Dựng/ Bộ xây dựng – Hà nội – số 36 -1998

Tập trung nguồn lực khắc phục lũ lụt tại các tỉnh miền Trung

Phó thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đi kiểm tra và chỉ đạo khắc phục hậu quả thiên tai
Sau khi cơn bão số 5 đổ bộ vào nam Phú Yên và bắc Khánh Hòa ngày 20 – 11 – 1998, khu vực miền Trung đã có mưa rất to. Tính đến 14 giờ ngày 22 – 11 – 1998, mức lũ tại khu vực miền Trung được xem là lớn nhất kể từ nhiều năm nay.
Tại Thành phố Đà Nẵng có gần 6000 ngôi nhà bị ngập lụt chủ yếu ở vùng thấp Hòa Vang, có 24 người chết vớt được xác, nhiều cây lớn bị đổ, hàng ngàn hec ta lúa màu bị ngập, nhiều tàu ra khơi ở quận Sơn Trà vẫn chưa có tin tức. Quốc lộ 1 và đường sắt bị ách tắc hoàn toàn. Tại Quảng Nam, hầu hết đồng bằng vùng ven sông bị ngập lụt nặng, có nơi sâu từ 2 – 4 mét. 200.000 hộ dân lâm vào cảnh lụt ngập, hàng trăm ngôi nhà bị nước cuốn trôi, 14 người chết vớt được xác. Hàng trăm hộ dân ở các huyện Điện Bàn, Duy Xuyên, Đại Lộc, phố cổ Hội An phải di dời. Thiệt hại vật chất ước tính gấp 2 lần so với trận lụt lịch sử năm 1964. Tính đến 16 giờ ngày 22 – 11, mực nước trên sông Vu Gia tại Ái Nghĩa là 9,84 mét cao hơn mức báo động 3 (MBDD) là 1,04 mét. Trên sông Hàn tại Cẩm Lệ là 2,52 mét cao hơn mức báo động 3 là 0,28 mét. Trên sông Thu Bồn tại Giao Thủy là 8,94 mét cao hơn mức báo động 3 là 0,34 mét. Tại Câu Lâu là 1,55 mét cao hơn mức báo động 3 là 0,85 mét, tại Hội An là 2,64 mét cao hơn mức báo động 3 là 0,94 mét. Tại Thừa Thiên – Huế mưa lớn đến mức máy bay không thể hạ cánh xuống sân bay Phú Bài. Nhiều đoạn Quốc lộ 1 bị ngập. Mực nước sông Hương và sông Bồ lên cao ở mức báo động 3. Các huyện Phong Điền, Phú Lộc và một số phường trong thành phố Huế đã ngập lụt đến ngày thứ 4. Tại Quảng Trị, mưa vẫn lớn, lượng mưa trung bình là 250 ly, mực nước sông Bến Hải dâng cao ở mức báo động 3. Hơn 23.800 ngôi nhà bị ngập lụt. 5.500 héc ta lúa, màu bị phá hoại. Nhiều đoạn dường bị sụt lở. Có 2 người chết và 5 thuyền đánh cá mất tích. Trong ngày 20 – 11 ở Khánh Hòa, lượng mưa đạt 350 ly, đoạn Quốc lộ ở Cam Ranh, Diêm Khánh bị lũ cắt đứt gây gián đoạn giao thông. Tại Bình Định, lượng mưa trung bình 200 ly, mức nước sông Hà Thanh và sông Côn trên mức báo động 3. Tại Quảng Ngãi, mực nước trên sông Trà Khúc cao hơn mức báo động 3 là 1,6 mét; có 3 người chết do lũ cuốn. Ách tắc giao thông xảy ra tại các trục đường Bình Sơn – Trà Bồng, Nghĩa Hành – Quảng Ngãi và Quốc lộ 1 đi qua thị xã.
Trước tình hình lũ lụt gây thiệt hại tại miền Trung. Sáng ngày 22 – 11, đồng chí Nguyễn Tấn Dũng, Ủy viên Bộ chính trị, Phó Thủ tướng cùng đại diện ban chỉ huy phòng chống lụt bão Trung ương và các Bộ liên quan đã vào kiểm tra tình hình, chỉ đạo công tác khắc phục hậu quả thiên tai tại địa phương và trực tiếp đi đến các vùng lũ lụt bị thiệt hại nặng để thăm hỏi và động viên nhân dân. Phó Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã chỉ đạo các địa phương cần chú ý bảo đảm an toàn cho nhân dân, đặc biệt phải có biện pháp sơ tán gấp người già, trẻ em đến nơi an toàn và bố trí chỗ ở tạm thời cho họ. Tuyệt đối không để tăng số người chết và người đói do lũ lụt. Tổ chức chặt chẽ công tác hỗ trợ cứu đói đồng thời chú trọng và chuẩn bị ngay từ bây giờ công tác phòng chống dịch. Ổn định thị trường và yêu cầu lực lượng quân đội của Quân khu 5 và không quân cứu trợ những vùng bị nước vây hãm.
Ngô Hữu Đoàn – Xây Dựng/ Bộ xây dựng – Hà nội – số 36 -1998

Thư của Bộ Trưởng Bộ xây dựng gửi các thầy giáo, cô giáo các trường đào tạo ngành xây dựng nhân ngày nhà giáo Việt Nam 20 – 11 – 1998

Hà Nội, ngày 28 tháng 10 năm 1998
Các Thầy giáo, Cô giáo thân mến!
Nhân ngày Nhà giáo Việt Nam 20 – 11 – 1998 tôi thân ái gửi tới các Thầy giáo, Cô giáo và Cán bộ công nhân viên các trường đào tạo thuộc ngành Xây dựng lời chúc mừng tối đẹp nhất.
Trong năm qua, thực hiện Nghị quyết 2 Trung ương khóa VIII về chiến lược phát triển khoa học và giáo dục trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, các trường đào tạo thuộc Ngành mặc dù còn nhiều khó khăn, nhưng đã có nhiều cố gắng trong phong trào thi đua dạy tốt, học tốt, hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch đào tạo được giao. Các Trường đã đào tạo bổ sung cho Ngành Xây dựng hàng ngàn kỹ sư, kiến trúc sư, kỹ thuật viên và công nhân kỹ thuật, đồng thời đào tạo lại, bồi dưỡng nâng cao trình độ cho hàng trăm lượt cán bộ quản lý. Lực lượng cán bộ và công nhân do các trường đào tạo làm việc ở các đơn vị trong Ngành Xây dựng đã phát huy tốt trong lao động sản xuất góp phần hoàn thành nhiệm vụ Nhà nước giao cho Ngành xây dựng.
Thay mặt Bộ xây dựng tôi xin bày tỏ khen ngợi và đánh giá cao những đóng góp của các Thầy giáo, Cô giáo trong thời gian qua.
Trong những năm tới tình hình kinh tế của đất nước vẫn còn nhiều khó khăn; nhưng nhiệm vụ đào tạo lực lượng lao động kỹ thuật cho Ngành càng trở nên nặng nề hơn. Yêu cầu những chuyên gia giỏi đầu đàn về các lĩnh vực quản lý của Ngành, những cán bộ quản lý, chuyên môn, nghiệp vụ giỏi và lực lượng công nhân kỹ thuật có tay nghề cao, có tác phong công nghiệp, có kỷ luật lao động… đang là nhu cầu cấp thiết ở tất cả các cơ quan, đơn vị trong ngành xây dựng và của xã hội. Vì vậy đòi hỏi các Thầy giáo, Cô giáo, Cán bộ Công nhân viên các trường thuộc ngành cố gắng hơn nữa để thực hiện nhiệm vụ đào tạo nhân lực nhân tài ngành xây dựng. Tôi mong các thầy giáo, cô giáo tiếp tục phát huy truyền thông sẵn có, đẩy mạnh phong trào dạy tốt học tốt, phấn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ vì sự nghiệp phát triển Kinh tế – Xã hội ở thời kỳ mới – công nghiệp, hóa đất nước.
Một lần nữa tôi gửi tới các Nhà giáo trong Ngành lời chúc mừng sức khỏe và hạnh phúc.
Bộ trưởng bộ xây dựng Nguyễn Mạnh Kiểm – Xây Dựng/ Bộ xây dựng – Hà nội – số 35 -1998

Nghiên cứu sản xuất thành công xi măng giếng khoan – G

Xi măng giếng khoan (XMGK) là loại vật liệu đặc biệt phục vụ công tác thăm dò và khai thác dầu khí, dùng để bơm trám giữ vững ống chống và ngăn cách các vỉa tích tụ dầu khí với các vỉa đất đá khác. Tính năng cơ lí hóa có nhiều phức tạp và giá trị thực tiễn lớn của nó nên xi măng giếng khoan không dễ chế tạo. Vì thế, đề tài Xi măng giếng khoan thu hút rất nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu khoa học và ứng dụng sản xuất.
Năm 1971, Viện vật liệu xây dựng đẫ bắt đầu nghiên cứu đề tài Xi măng giếng khoan. Đến năm 1986, các đề tài của Viện đều hướng vào việc chế tạo Xi măng giếng khoan theo tiêu chuẩn của Liên Xô trước đây. Trước tình hình thăm do và khai thác dầu khí ở Việt Nam có những thay đổi về công nghệ bơm trám nên nhu cầu về chủng loại Xi măng giếng khoan cũng thay đổi theo. Mặc dù giai đoạn này có nhiều công trình nghiên cứu Xi măng giếng khoan ở cả trong và ngoài Viện Vật liệu xây dựng, nhưng hầu hết đều chưa giải quyết được tận gốc, kết quả chưa đúng, chưa đủ so với tiêu chuẩn của Viện dầu mỏ Mỹ API (American Petrolium Insitute). Xi măng giếng khoan được API định nghĩa và phân ra 9 chủng loại, đó là A – B – C – D – E – F – G – J, trong đó Xi măng giếng khoan chủng loại G (XMGK – G) được sử dụng phổ biến nhất. Theo quy định của API, Xi măng giếng khoan – G chỉ bao gồm clanhke và thạch cao, không được pha thêm bất kỳ phụ gia nào khác. Ngoài việc sử dụng bơm trám các lỗ khoan có độ sâu từ 0 – 2400 mét, Xi măng giếng khoan – G còn được dùng làm nền để pha thêm phụ gia tạo ra xi măng D – E – F… Hiện nay, nhiều nước trên thế giới đang thừa nhận cách định nghĩa phân loại của API và sử dụng vào thực tế bơm trám. Tuy nhiên, chỉ có 1 số nước sản xuất được Xi măng giếng khoan – G. Những nước không nghiên cứu được công nghệ sản xuất thường phải mua bản quyền nước ngoài. Ở nước ta, nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu của ngành công nghệ dầu khí, đề tài nghiên cứu công nghệ sản xuất Xi măng giếng khoan – G được viện Vật liệu xây dựng thực hiện từ tháng 6 – 1996 và kết thúc nghiệm thu 14 – 2 – 1998. Hội đồng khoa học (Bộ xây dựng) đã đánh giá đề tài hoàn thành ở mức xuất sắc. Ngay sau khi xác định được công nghệ chế tạo trong phòng thí nghiệm, đề tài đã được sản xuất thí nghiệm trên dây chuyền lò quay Pilot của Viện Vật liệu xây dựng. Sản xuất nghiệm thu đạt chất lượng của API. Mẫu xi măng đã được kiểm tra chất lượng tại Mỹ, Singapore và Anh. Kết quả kiểm nghiệm đã xác định Xi măng giếng khoan – G do Viện Vật liệu xây dựng nghiên cứu sản xuất đạt chỉ tiêu kỹ thuật của API.
Từ thành công đó, Viện Vật liệu xây dựng tiến hành sản xuất 500 tấn Xi măng giếng khoan – G trên quy mô nông nghiệp. Sau khi gửi chào hàng cho một số hàng của Mỹ (BJ), của Anh (Lloyd), Canada Vietsovpetro, sản phẩm được các hãng đánh giá cao và đã nhận được đơn đặt hàng. VIETSOVOPETRO đã hoàn tất các thí nghiệm cho bơm trám 2 giếng khoan ở Vũng Tàu. Hãng Lloyd của Anh đã sử dụng 40 tấn sản phẩm để bơm trám tại Việt Nam và đánh giá cao chất lượng Xi măng giếng khoan – G do ta sản xuất.
Đề tài đã được Bộ xây dựng nghiệm thu, Nhà nước quyết định hỗ trợ Viện Vật liệu xây dựng triển khai dự án P (cấp quốc gia) để hoàn thành công nghệ sản xuất Xi măng giếng khoan – G. Việc triển khai sẽ thực hiện tại công ty xi măng Hoàng Thạch trong thời gian gần đây.
Thành công bước đầu của đề tài trong nghiên cứu và đưa vào ứng dụng cũng có sự đóng góp tích cực của Công ty dung dịch khoan và hóa phẩm dầu khí (DMC), sự hỗ trợ của Tổng công ty dầu khí Việt Nam và Vietsovpetro.
PTS. Lương Đức Long – Xây Dựng/ Bộ xây dựng – Hà nội – số 35 -1998